Ngày xuân tìm về miền dã sử: Bất khuất sử thi

Ước tính đến nay, khu vực biên giới quy tụ khoảng trên 40 sắc dân với nhiều hệ ngôn ngữ khác nhau. Chính những sắc dân này luôn hoài chứa trong mình những huyền thoại, đồng thoại và dã sử do dân gian lưu truyền trong bản sắc văn hóa tộc người và tạo nên những nền văn hóa đặc thù, đa dạng.

Đi giữa trùng trùng trầm tích, sẽ ngỡ ngàng nhận ra một miền dã sử với những câu chuyện hàm chứa ý thức bảo vệ, giữ gìn bờ cõi quốc gia, đất đai cha ông để lại được truyền từ đời này sang đời khác qua những trang sử dân gian một cách giản dị mà đầy hiệu quả.

Hành trình di cư và phát triển của đồng bào Thái trên đất Việt là một câu chuyện dài hơn câu khắp giăng ngang núi, trong đó, việc xung đột, chống cát cứ để tạo nên một “đế chế” Thái hùng mạnh dưới thời Tạo Ngân (thế kỉ XIV). Đến Mường Lò, sẽ không khó để được người già ở đây kể cho trích đoạn trong các sử thi di sản của dân tộc Thái như “Táy Pú Xấc” (có nghĩa là người Thái đánh giặc) hoặc “Căm Hánh tặp sấc klương” (Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng).

Được viết theo lối hát “khắp” truyền thống vốn được coi là làn điệu dân ca được dùng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa đời thường và nghi lễ của cộng đồng Thái, “Táy Pú Xấc” cho thấy quá trình thiên di xuống phía Nam của dân tộc Thái đầy gian truân qua 2 đợt chính là vào khoảng thế kỉ thứ IX-X và đầu thế kỉ thứ XI. Nguyên nhân “Người Thái xưa ở đất Hán rủ nhau xuống ăn Mường Lò” (dân ca Thái ở Mường Muổi, Thuận Châu - Sơn La) là do không chịu thần phục chính sách đồng hóa của Hán tộc nên họ đã từ thượng nguồn Tây Giang theo dòng chảy của sông Đà và sông Mê Kông di cư xuống phía Nam.

Tác giả và nghệ nhân A Lưu - pho sử thi sống của dân tộc Ba-na.

Tác giả và nghệ nhân A Lưu - pho sử thi sống của dân tộc Ba-na.

Hành trình của họ trải qua nhiều gian truân để trở thành chủ nhân một vùng đất rộng lớn với đặc điểm “vùng đất ba dải, miền chín lưu vực con sông”. Các sự kiện lịch sử được ghi trong “Táy Pú Xấc” khá chi tiết, ấn tượng nên rất có giá trị về mặt lịch sử cũng như văn hóa xã hội. Nghệ nhân Lò Xuân Thương ở xã Púng Tra, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La là một trong số ít các nghệ nhân biết hát “Táy Pú Xấc”. Nghe bài khắp có tiết tấu chậm rãi, ngâm nga kể lại từng chi tiết trong quá trình “cha ông đánh giặc” nơi đầu sàn nhìn ra hướng rừng, có cảm giác như thấy được từng trường đoạn anh hùng và bất khuất của các thể hệ người Thái đấu tranh giữ đất và tranh đoạt mở mang địa hạt, thống nhất bờ cõi.

Nếu “Táy Pú Xấc” đã trở thành một áng hùng thi của ngàn năm thì “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng” lại là câu chuyện của một giai đoạn mà trong đó, người Thái Đen cùng nhân dân các dân tộc Mường Lò là chủ thể khởi nghĩa chống giặc khăn vàng từ phương Bắc xâm lược nước ta dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Cầm Hánh. Là sự thật lịch sử từng diễn ra tại Mường Lò trong nhiều thế kỷ, người Thái Mường Lò cũng như đồng bào Thái cả nước đều vô cùng tự hào về trang sử chiến đấu bảo vệ Tổ quốc bằng thơ này.

Nghệ nhân Lò Văn Biến, bản Cang Nà, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã dành nhiều tâm sức để sưu tầm và dịch lại bộ sử thi từ các nghệ nhân cao tuổi khác để văn bản hóa tác phẩm. Sử thi có đoạn: “Giặc cờ vàng âm mưu xâm chiếm nước ta. Ở Mường Lò có bốn anh em là Cầm Hánh, Cầm Chiêu, Cầm Tú và Cầm Hiệp đứng lên chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Sau những trận giao tranh quyết liệt, với số quân đông và vũ khí mạnh hơn, quân giặc bắt được Cầm Hiệp, Cầm Tú và Cầm Chiêu. Cầm Hánh thế cô, bị vây bốn bề đành cho quân sĩ lên các bản người Mông, Dao... lánh nạn, còn ông dùng thanh gươm chiến của mình tự sát để giữ tròn khí tiết. Bởi vậy ngày nay, người Thái, Mông, Dao vẫn coi nhau như anh em ruột thịt. Cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm không thành nhưng đã khơi dậy ý chí đấu tranh quật cường của người Thái và bà con các dân tộc Mường Lò, không chịu làm kiếp ngựa trâu”.

Không quên ơn người xưa, đồng bào Thái vẫn hương khói phụng thờ anh hùng Cầm Hánh ở đền thờ đặt tại phường Tân Anh, thị xã Nghĩa Lộ. Thanh gươm ông từng tắm máu giặc ngoại xâm và tự mình tuẫn tiết đã trở thành báu vật của đồng bào Thái. Mấy trăm năm sau, hậu duệ của những người anh hùng theo Cầm Hánh đánh đuổi quân xâm lược ấy đã khơi nguồn lịch sử, sôi máu hùng anh để tham gia cuộc khởi nghĩa Cần Vương do lãnh tụ Nguyễn Quang Bích lãnh đạo ở Yên Bái và Tây Bắc. Ngoài ra, hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta cũng có sự cống hiến xứng đáng của đồng bào Thái trên vùng nước non Tây Bắc.

Cũng là những chủ nhân lâu đời của Tây Bắc điệp trùng mây, dân tộc Hà Nhì với 3 nhóm địa phương là Cồ Chồ, Là Mi và Hà Nhì Đen đã góp thêm một sắc màu văn hóa rực rỡ và giàu giá trị nhân bản trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong kho tàng văn hóa dân gian có thể nói là vô cùng phong phú của dân tộc này, sau một thời gian dài nghiên cứu, các nhà văn hóa học đã xác định rằng, truyên thơ dài  “P’hùy ca Na ca” (còn được gọi là Xa Nhà Ca) là một sử thi đúng nghĩa.

Nghệ nhân Lò Văn Biến (áo trắng) gặp thầy Mo để sưu tầm sử thi “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng”.
Nghệ nhân Lò Văn Biến (áo trắng) gặp thầy Mo để sưu tầm sử thi “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng”.

Từ nhiều hoạt động biên khảo, điền dã thực địa chuyên sâu, nhà nghiên cứu Bùi Quốc Khánh đã mạnh dạn gọi sử thi theo cách của người Hà Nhì là “Há pà” bởi đây là thuật ngữ được đồng bào dùng để chỉ hành động hát kể. Song, cho đến nay, sau rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố về dân tộc Hà Nhì, vẫn chưa có một văn bản chính thức nào thừa nhận  “P’hùy ca Na ca” là sử thi.

Sẽ không mất quá nhiều thời gian để nghe trọn bộ Há pà “P’hùy ca Na ca” từ đồng bào Hà Nhì ở vùng biên Tây Bắc. Giai điệu trầm buồn được cất lên giữa sân nhà tràn ngập màu nắng cúc quỳ và nồng ấm đỏ vàng của bức tường trình còn mới. Khi ấy, khung cảnh núi rừng lặng phắc tôn vinh lời hát của người nghệ nhân già. Còn con suối Păng Pơi mùa lũ cũng ghìm dòng nước chảy dìu dặt hơn để không làm át lời dân tộc. Thiết tưởng sẽ không thể tìm thấy không gian nào thưởng thức  “P’hùy ca Na ca” phù hợp hơn ở chính nơi nó được sinh ra.

Điều rất lý thú là khi miêu tả về vùng đất mới thuộc cương thổ của nước Đại Việt xưa, sử thi “P’hùy ca Na ca” chỉ ra rằng, Khó Ma là “nơi có nhiều sản vật” và “uống rượu ngọt không cần phải trộn men, hạt cơm ăn cũng chẳng dùng chày giã” (trích sử thi). Đối với cánh lính biên phòng thì việc tìm địa danh Khó Ma chẳng có gì là khó. Đồn trưởng đồn Pa Vệ Sử cho chúng tôi biết địa bàn đồn anh đứng chân chính là vùng đất tổ của cộng đồng Hà Nhì Cồ Chồ trên đất Viêt. Loại cây thần kỳ đó của người Hà Nhì chính là cây báng, móc, cọ... là những loại cây trong lõi có bột, hiện vẫn được người La Hủ trên địa bàn dùng để ăn và nấu rượu. Đồng bào La Hủ cũng cho biết, khi họ đến đất này đã thấy có ruộng bậc thang bị bỏ hoang. Có lẽ sau một thời gian quen khí hậu, hợp thông thổ, người Hà Nhì đã tìm ra những vùng đất mới tốt hơn và di xuống những vùng thấp hơn.

Nghệ nhân Pờ Lóng Tơ ở xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tự hào nói rằng, dẫu có kết cục bi thảm, song  nhiều trường đoạn kể về sự chiến đấu dũng mãnh rất hấp dẫn và nhiều lần nhắc đi nhắc lại một mệnh đề như khẳng định quyết tâm giữ đất của người Hà Nhì. Hình ảnh một bản Hà Nhì với hệ thống phòng thủ rất nghiêm ngặt như một làng chiến đấu được gợi tả “Có hàng rào đan bằng dây thép/ Bao bọc bảo vệ khắp xung quanh/ Bản ở giữa cũng bao hàng rào thép/ Bảy mươi đôi cọc cắm đều nhau. Chúa tể rừng xanh con voi to đuôi ngắn/ Tổ tiên ta thuần phục được nó về/ Để giữ ranh giới Hà Nhì - Hán/ Trấn thủ dòng Ha Sa nước lớn/ Là con rồng lặn dưới đáy sông sâu”. Cùng với đó là thái độ kiên quyết không nương tay với những kẻ có âm mưu xâm lược đất đai của người Hà Nhì: “Nếu một ngày trâu ngựa bước chân sang/ Sẽ đánh cho chết ngay lập tức/ Cho phân mốc xương mục ngay tức khắc/ Đánh cho chân ngựa chổng lên trời/ Đánh cho ruột ngựa phơi ra đất...”.

Nhắc đến sử thi thì không thể không nhắc đến Tây Nguyên, miền đất gợi biết bao suy tưởng về một không gian đầy huyền thoại. Tâm hồn, cuộc sống của người dân Tây Nguyên xa xưa được biểu thị xuyên suốt qua những pho sử thi sống động. Với khoảng 622 sử thi được phát hiện và sưu tầm, đây có thể coi là vùng đất có mật độ sử thi lớn nhất Việt Nam bởi một số địa bàn khác chỉ có khoảng từ 3 đến 5 sử thi. Thậm chí, có một số quốc gia trên thế giới chỉ có vỏn vẹn 1 sử thi mà thôi. Các nhà nghiên cứu cũng đã tiến hành lập hồ sơ để đệ trình Unessco đưa sử thi Tây Nguyên vào danh mục văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại với đại diện là một số sử thi tiểu biểu, mang giá trị nghệ thuật cao của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên.

Người Êđê có sử thi Khan “Đăm San”, “Đăm Di”, “Khinh Dú”, “Đăm Đơ roăn”, “Y Pơrao”, “Mơ Hiêng”... Ngưởi Ba-na có sử thi Hơ-mon “Đăm Noi”, “Giông nghèo tám vợ”, “Tre vắt ghen gét Giông”, “Dyông Wiwin”, “Xing Chi Ôn”... Sử thi Hơ-ri của người Jarai là “Chilơkôk”, sử thi Akha juka của người Raglai là “Uđai Ujà”, sử thi Dăm Diông của người Xê Đăng và sử thi Ôtnrong của đồng bào Mơ-nông là “Cây nêu thần”, “Mùa rẫy bon Tiăng” hay “Đi cướp lại bộ cồng từ Sơm, Sơ”... Hàng trăm tác phẩm trên làm nên một bộ sử thi kể về cuộc đời nhiều thế hệ anh hùng của các dân tộc bản địa Tây Nguyên đã có công lập buôn làng, chiến đấu bảo vệ quê hương và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Người Hà Nhì ở Mường Tè, Lai Châu tham gia bảo vệ biên giới.
Người Hà Nhì ở Mường Tè, Lai Châu tham gia bảo vệ biên giới.

Trong khoảng thời gian một tháng công tác tại Tây Nguyên, chúng tôi đã có dịp gặp gỡ các nghệ nhân đang lưu giữ các bộ sử thi của dân tộc mình như nghệ nhân A Lưu, nghệ nhân A Bek, nghệ nhân Điểu Klung, nghệ nhân A Jar, nghệ nhân Y Blu, nghệ nhân Y Guang Hwing... để nghe các cụ hát kể một số trường đoạn sử thi tiêu biểu của dân tộc mình. Yếu tố nhân vật anh hùng được hiển thị trong đại đa số sử thi Tây Nguyên. Sử thi “Đam San” cho thấy một Đam San anh hùng chiến thắng kẻ thù xâm hại lợi ích cộng đồng dân tộc mình và trở thành “tù trưởng của mọi tù trưởng”. Sử thi “Anh em Giông, Giở...” của người Ba-na nói về chiến thắng của anh hùng Giông trước tên Xtret nham hiểm... Bối cảnh lịch sử trong các sử thi đều biểu đạt một thời kỳ đồng bào sống cô lập, nhỏ bé giữa núi rừng và thiên nhiên khắc nghiệt. Việc đấu tranh với thiên nhiên, với các cộng đồng khác rắp tâm tranh đoạt đất đai, của cải, phụ nữ... là thường xảy ra. Chính vì vậy, mỗi cộng đồng đều cần phải đoàn kết thành một khối thống nhất dưới sự dẫn dắt của một vị thủ lĩnh.

Nhà nghiên cứu Phan Thị Hồng từng nhận xét: “Người anh hùng sử thi Tây Nguyên, những pho tượng sừng sững, sống động, hiên ngang, con người hiển hách luôn sát cánh với cộng đồng”. Hầu hết sử thi đều nói lên sự vươn lên mạnh mẽ của con người trong mọi hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống. Cuối cùng, cái thiện sẽ thắng cái ác để trường tồn. Nó như gián tiếp nói lên sức sống của người Tây Nguyên giữa bao khó nghèo lạc hậu để tồn tại đến ngày nay.

(Còn tiếp)

Phạm Vân Anh

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.