Mùa Xuân diễn tập quân sự, giữ yên bờ cõi

Vua Thiệu Trị từng dụ rằng: “Quân lính có thể nghìn ngày không dùng, không thể một ngày không tập luyện. Ngày nay, nước nhà nhàn rỗi, các hạng biền binh hiện ở đội ngũ trong Kinh, phải nên để thì giờ mà diễn tập cho tinh thục”.

Quân đội Đại Việt là một quân đội mạnh, từng đánh thắng những đội quân xâm lược hùng mạnh của nhà Tống, đế quốc Nguyên Mông, đánh đuổi quân Minh, bình định Chiêm Thành… Để có được quân đội mạnh như vậy, tất nhiên phải chú trọng vào việc luyện tập, từ luyện sức khỏe, võ nghệ đến trận đồ.

Chính sử nước ta cho biết, từ năm Nguyên Phong thứ 3 đời Trần Thái Tông (1253), nhà Trần đã xây Giảng Võ đường để luyện quân. Đến tháng 3/1262, có chép việc vua Trần Thánh Tông xuống chiếu cho các quân chế tạo vũ khí, chiến thuyền và cho quân thủy, lục tập trận ở chín bãi phù sa sông Bạch Hạc.

anh-hiem-co-ve-ky-binh-tai-viet-nam-qua-cac-thoi-ky-tu-xua-den-nay-1-1591839955-34-width860height552.jpg -0
Hình ảnh kị binh triều Nguyễn tại Cung đình Huế. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Thời Lê Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ 2, nhà vua cho quân các vệ ở 5 đạo diễn tập cả thủy chiến và lục chiến. Về phép tập trận, vua Lê Thánh Tông từng dụ quần thần rằng: “Tổng quản, Tổng tri được phép dựa vào trận đồ, điều chỉnh dốc sức chia thành từng đội, từng ngũ, dạy chúng biết phép ngồi đứng tiến lui, nghe rõ tiếng hiệu lệnh về chiêng trống, làm cho quân sĩ tập quen việc bắn cung tên, không quên việc vũ bị, đến ngày thứ tư trở đi mới được sai phái".

Theo chế độ thời nhà Lê, hàng năm cứ đầu mùa xuân, các quân ở 5 đạo đều hội họp ở kinh sư để kiểm điểm tập dượt. “Đại Việt sử ký toàn thư” chép lại tên các phép luyện thủy trận thời Lê Thánh Tông như: trung hư, thường sơn, xà mãn, thiên tinh, nhạn hàng, liên châu, ngư đội, tam tài, thất môn và yển nguyệt; bộ trận có các phép: trương cơ, tương kích và kỳ binh... “Toàn thư” cho biết vua Lê Thánh Tông từng cho quân sĩ tập trận ở Thiên Trường, tập trận Trung hư ở Lỗ Giang, tập trận Tam tài và Thất môn ở Vi Giang.

Về thủy quân, thời Lê quân sĩ luyện tập ở hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm ngày nay), nên hồ còn gọi là hồ Thủy Quân, hoặc dàn thuyền tập trận ở sông Hồng. Thời vua Lê Thánh Tông, nhà vua còn cho đào hồ Hải Trì và dựng điện Giảng Võ cạnh hồ để luyện quân.

Thời Lê trung hưng, bên cạnh việc tập trận còn được tổ chức thi cử. Theo sách “Binh chế chí” trong bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, cứ 3 năm một kỳ, vào mùa đông các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì Bộ Binh tổ chức thi Bác cử. Các phép tiến lên đứng lại, phép đặt doanh bày trận, đều theo lệnh trong nội truyền ra. Mùa xuân các năm Dần, Thân, Tị, Hợi, sau khi tế cờ xong thì thi bộ binh ngoài bãi sông Hồng. Phàm phép tiến lên đứng lại, phép đặt doanh ngoài trận, đều có theo lệ hoặc có thêm bớt, cũng theo lệnh trong nội. Theo bộ sách này thì các vệ, đội nếu thực hành tốt thì được thưởng, hạng bình thường chỉ được phát tiền cơm. Các đội ngũ xếp hạng thấp nhất sẽ bị phạt tiền, thậm chí còn không phát tiền cơm cho binh lính.

Về chuyện tập trận đồ thời Nguyễn, bộ sử “Đại Nam thực lục” cho biết, năm Minh Mạng thứ 20 (1839), mùa thu, tháng 9, nhà vua cho diễn tập trận thuỷ chiến ở sông Thanh Phước (một nhánh của sông Bồ ở Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế ngày nay). Vua sai Đô thống là Nguyễn Tăng Minh, Hiệp biện Đại học sĩ là Trương Đăng Quế đến tận nơi giám sát. Khi trở về, các khâm sai báo lại rằng: các quân bơi chèo, lúc đi lúc ngừng, khá coi được, mà diễn bắn điểu sang (súng điểu thương, hay còn gọi là hỏa mai) cũng khá thạo. Vua nghe vậy, khen ngợi, đặc thưởng cho Thuỷ sư Đề đốc Hiệp lý trở xuống đến biền binh tiền gạo lương có thứ bậc mỗi người một khác.

Trương Đăng Quế tuy xuất thân là quan văn, nhưng từng được cử giữ chức Thượng thư bộ Binh. Do đó, vua Minh Mạng từng đem trận đồ thuỷ chiến của phương Tây cho Trương Đăng Quế xem và bảo rằng: “Phép thuỷ chiến, nếu giặc chiếm được đầu gió, tất nhiên thừa thế đuổi đánh ta, thì thuyền ta giả cách thua, nhân đó buông dây, trở buồm dần dần chạy gié ra, rồi sau súng ống của ta mới thừa sơ hở mà bắn đánh lại được. Nếu ta chiếm được đầu gió, thì nên đuổi theo từ từ, đừng bức bách chúng vội quá, thì chúng không đánh trả lại mình được. Những điều tương tự như vậy đều có thể suy ra. Những lúc rỗi việc công, khanh nên xem kỹ bản đồ này, tham bác châm chước để làm phép thao diễn thuỷ quân”. Nghe những lời này, có thể thấy rằng vua Minh Mạng rất thông thạo về phép thủy chiến.

Sau khi vua Thiệu Trị lên ngôi, vào tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), nhà vua ra Thăng Long làm lễ bang giao với nhà Thanh, đã tập hợp biền binh 5 tỉnh lớn ở Bắc Kỳ để điểm duyệt. Vua sai Hiệp biện Đại học sĩ Lê Đăng Doanh, Hành dinh đại thần Mai Công Ngôn sung chức Tổng lý duyệt binh đại thần, trước kỳ duyệt binh, kiểm hạch về quân chính.

Nhà vua dụ rằng: “Bang giao là việc lớn, người nước xa đến quan chiêm. Chỉnh đốn quân sĩ, phô bày binh uy, chính là lúc này. Trẫm sẽ một phen duyệt cả các quân để làm cho uy thế của nước mạnh mẽ. Các ngươi đều nên kiểm soát, sắp đặt tâu lên cho kịp biết ngay”.

Về cái lợi của trận ngựa, vua Thiệu Trị phân tích: “Quân kỵ có thể rời ra, tan ra, có thể tụ tập ở xa nghìn lý mà về tới chỉ bằng 100 lý, ra vào được luôn luôn, cho nên gọi là quân ly hợp. Khi xưa, kỵ sĩ chỉ có cung tên là môn sở trường nay thì có các súng điểu sang, tiêu sang, gươm trường, súng ngựa, công đánh phá giặc hơn biết chừng nào! Vả lại, người dùng binh giỏi không cần phải đánh, người đánh giỏi không cần phải bày trận”.

anh-hiem-co-ve-ky-binh-tai-viet-nam-qua-cac-thoi-ky-tu-xua-den-nay-2-1591839955-969-width860height517.jpg -0
Đội vệ binh Cung đình Huế đầu thế kỷ XX. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Vua Thiệu Trị cũng là người thông thạo sách võ kinh. Nhà vua giảng cho bọn Phạm Hữu Tâm, Mai Công Ngôn về ba trận của nhà binh mà danh sĩ Viên Bán Thiên thời nhà Đường bên Trung Quốc từng bàn, bao gồm: “Hành binh theo chính nghĩa như trận mưa quý hoá đổ xuống, hợp với thiên trời, ấy là thiên trận; đủ lương ăn, ít tiêu phí, vừa làm ruộng và chiến đấu hợp với địa nghi, ấy là địa trận; đem quân đi, quân sĩ như con em đi theo cha anh, được sự nhân hoà, ấy là nhân trận; nếu bỏ những điều đó, thì đánh thế nào được?”. Bọn Hữu Tâm, Công Ngôn nghe vua nói xong, cúi đầu tạ xin chịu kém.

Khi vua hỏi: “Trận ngựa với trận voi, đằng nào khó hơn?”; Phạm Hữu Tâm thưa rằng: “Trận ngựa khó hơn”. Vua Thiệu Trị đồng ý, nói rằng: “Phải đấy! Trận voi chỉ là chiếu theo phép luyện tập thường, còn trận ngựa thì quân kỵ bắn tên, cầm dao, xông pha vào trận, nếu không quen thạo thì mình bị hại trước, còn giết giặc được sao? Thế cho nên khó hơn. Nay đợi duyệt xong ban thưởng, sẽ lấy khó, dễ làm thứ bậc cốt cho đúng mức công bằng để tỏ ra sự ban khen và khuyến khích"…

Đến năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), vào tháng 5, vua Thiệu Trị rước Thái hậu ra giá chơi Vọng Hải lâu để xem tập trận. Lần này thấy kỷ luật nghiêm minh, thuỷ trận hợp phép, vua sai thưởng cho từ quan đại thần tổng duyệt đến quản vệ binh lính có thứ bậc khác nhau. Vua nhân bảo bộ Công rằng:

“Ở biển đặt nhà chòi để làm cho mạnh cái thế chỗ cương giới, tất phải sửa chữa thêm luôn”. Sau đó vua lại dụ cho bộ Binh rằng: “Súng đại bác là thứ cốt yếu trong việc dùng binh, bắn tin hay không, nên châm chước mà định thưởng phạt, để cho quân sĩ biết khuyên, răn”.

Tháng Giêng năm 1845, vua Thiệu Trị lại cho tiến hành duyệt binh trọng thể, có diễn tập trận voi, trận ngựa và trận pháp thủy bộ. Vua nói rằng: “Quân lính có thể nghìn ngày không dùng, không thể một ngày không tập luyện. Ngày nay, nước nhà nhàn rỗi, các hạng biền binh hiện ở đội ngũ trong Kinh, phải nên để thì giờ mà diễn tập cho tinh thục. Bộ binh thì chuẩn cho viên thống quản thao diễn ở giáo trường: phép bắn, phép bày trận; thủy sư cũng do viên thống quản ấy chiếu lệ thao diễn binh thuyền ở bờ phía Nam sông Hương, dạy cho bắn súng trường, súng đại bác, và khi ngồi, khi dậy, khi đi, khi đứng để cho biết phép đánh bộ, đánh thủy, cốt cho kỹ thuật và võ nghệ đều tinh để phòng khi cần dùng đến”.

Lê Tiên Long

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.