Bắt đầu từ sau rằm tháng 10, khi tiết trời đã chuyển dần hanh khô và sương mù phủ bạc mặt sông Nhật Lệ buổi sớm mai hay lúc chiều buông, người dân làng biển Hải Thành, thành phố Đồng Hới bắt đầu làm các món ăn ngày Tết. Suốt hơn 2 tháng cuối năm, những con đường bao quanh, những ngõ nhỏ chạy ven đồi cát luôn dậy mùi các loại bánh, mứt, kiệu cà, hải sản...
Mùa tết là mùa thơm!
Không khí mùa tết càng ngày càng rộn rực khi tháng ngày dần cạn. Mứt cho người già uống trà. Bánh xoài cho lũ trẻ nhâm nhi. Hải sản rim đậm đà một chút, ngọt ngào một chút cho nồng ấm thêm chén rượu chào năm mới. Kiệu, cà cay cay, chua chua để bánh chưng, bánh đòn đỡ ngán... Đã làm như thế từ rất lâu nay nhưng năm nào cũng vẹn nguyên hào hứng. Mặc cho ngoài kia tất bật bon chen sơn hào hải vị, nhà nào thức nấy, cặm cụi, cần mẫn tối ngày, xong đâu đấy thì trao đổi nhau. Phải có những món ấy, thức ấy tự tay người làng mình làm lấy thì mới là tết đủ đầy. Tôi thích nhất công việc làm bánh xoài của người Hải Thành. Ở đâu có nhà làm bánh, ở đó cả xóm thơm nức, níu giữ những bước chân tình cờ qua. Bánh xoài, một món ăn truyền thống dân dã nhưng có sức sống bền lâu.
Làng biển Hải Thành ra đời vào khoảng những năm nửa cuối thế kỷ 15, khi hai triều đại phong kiến Trịnh, Nguyễn phân tranh. Nhà Nguyễn muốn giữ chặt vùng đất phía Nam đèo Ngang nên phái một số quần thần từ Huế ra đây trấn giữ. Năm qua tháng lại, những người lính đi theo lệnh triều đình dần quen cảnh, quen người, họ ở lại mở xóm mở làng, lập quê mới ở nơi vùng đất bên chân sóng, đầu biển cuối sông này. Mang theo nhiều tập tục truyền thống từ quê cũ, ngay từ thuở đó người Hải Thành đã giỏi việc chế biến các món ăn. Cho đến hôm nay vẫn vậy, cũng những món đó, cách làm đó, không thay đổi, không thể thiếu. Với họ, là hồn cốt, là truyền thống hàng mấy trăm năm của làng, họ luôn gìn giữ và không hề có ý định xóa bỏ. Dù cho Hải Thành đã chuyển làng nên phố, đời sống hiện đại đã chen vào mỗi căn nhà, bánh kẹo hàng hóa ngoại nhập bày bán khắp nơi. Nhiều gia đình có con đi nước ngoài, bánh kẹo ngoại gửi về cho ba mạ, ông mệ không thiếu nhưng kiểu gì thì mạ vẫn phải đổ bánh xoài. Thiếu bánh xoài mạ làm, tết thiếu đi một mùi hương cũ nhưng mãi nhớ thương.
Đơn giản mà kỳ công. Mộc mạc mà tinh tế. Từ củ khoai dong trắng ngọc ngà đến chiếc bánh xoài vàng mơ mộng là cả một quá trình hóa thân vất vả. Mẹ tôi kể, ngày xưa lúc bà còn ở quê với ngoại, khoai dong là loại củ chống đói của con nhà nghèo. Thường khi những cơn gió mùa đông bắc tràn về, hầu như nhà nào trong cái xóm ven núi quê tôi cũng cạn lương thực. May thay, đó là lúc vườn dong sau nhà bắt đầu rụi lá, báo hiệu khoai đã già. Mỗi buổi sáng, ngoại ra vườn bới củ, luộc một nồi dong phát cho mẹ tôi và các cậu, các dì ăn sáng. Không có nhiều nhưng cũng đủ êm bụng để mẹ tôi đến trường dưới trời mưa phùn gió bấc. Mẹ chẳng ngờ từ thứ củ chống đói ấy lại có thể làm ra được những chiếc bánh thanh khiết đến vậy.
Làng nằm bên cửa biển, những cơn gió mùa đông bắc thổi rát, quần từ trên động cát cao xuống, xoáy vít theo từng con ngõ nhưng chẳng hề chi, người làng biển quen sóng, quen gió, ai cũng bình thản ngồi bên thềm nhà, vừa gọt vỏ khoai vừa nói với nhau về dự định cho những ngày tết sắp đến. Từng củ... từng củ một... cần mẫn như thế cho đến khi hàng tấn khoai xù xì, lấm láp bùn đất được bóc sạch và rửa trắng. Rồi xay. Rồi lọc. Khoai dong là loại củ nhiều xơ nên lọc tinh bột là công đoạn vô cùng vất vả. Người ta phải dùng những chiếc rổ tre to, lót vào đó một tấm vải dày, vừa đủ cho dòng nước mang theo tinh bột trắng ngà dẻo quánh chảy qua, đất cát, xơ bã đọng lại bên trên. Công đoạn này đòi hỏi người làm phải có thể lực tốt và đôi tay dẻo dai để đứng lọc bột trong nhiều giờ liền. Ba lần bảy lượt hết nhồi lại lắc, làm sao để còn lại cuối cùng là những hạt bột trắng tinh lắng xuống đáy thùng. Bột tươi phải phơi dưới nắng già. Một ngày nắng giữa mùa đông rét mướt thật hiếm hoi. Người làm bột sốt ruột sốt gan đợi nắng. Đêm ngửa mặt nhìn trời mong gặp một ánh sao. Sáng ngóng vời ra cửa biển đợi một khoảng sáng xanh phía mây nước gặp nhau. Trộm lo, tết này sẽ chẳng có bánh xoài dâng cúng tổ tiên trong đêm 30. Nhưng rồi, như thấu hiểu lòng người, nắng cũng bừng lên, chan hòa và ấm áp. Những thùng bột im lìm mấy nay được quấy đảo, đánh thức. Tíu tít. Rộn rịp. Bòn từng giọt nắng để bột khô hơn, rang sao thật kỹ cho bột thơm hơn. Tất tả như thế cho đến khi từng nong bột mịn màng và nhẹ tơi được tuồn vào bao, đợi ngày lên lửa.
Ngày lên lửa thật là hấp dẫn. Lửa phải được lên vào ngày đẹp, giờ đẹp. Mẻ bánh đầu tiên nhất nhất phải thành công và tinh sạch tuyệt đối để đặt lên ban thờ, mong tổ tiên phù hộ cho một mùa tết thành công. Lửa làm bánh không phừng phực như muốn đốt, muốn thiêu, cũng không nhá nhem tranh đen tranh đỏ mà phải là lửa than, rực và đều. Điều này chỉ có được ở tài nghệ của người nhóm bếp. Thường đó là mạ. Đôi tay mạ vốn quanh năm chặt cá bán cho khách ngoài chợ nhưng cũng quá quen với việc nhóm than đổ bánh, dù mỗi năm chỉ có một lần. Từ lúc này căn bếp trở nên ấm sực. Người đánh bột. Người đổ bánh. Người sấy khô. Bột - trứng - đường, thêm chút nước nghệ tươi tạo màu, rất giản đơn nhưng không đơn giản. Vì tất cả còn lệ thuộc vào tay nghề của người ngồi bếp. Già lửa sẽ cháy. Non lửa sẽ xìu.
Tôi thích ngồi trong những căn bếp đổ bánh của người Hải Thành vì nó rất ấm và rất thơm. Thường đó chỉ là một cái chái nhỏ và thấp, đủ chỗ cho hai lò than vừa khéo với khuôn bánh và một dàn sấy. Mỗi năm cái chái này có khi chỉ được mở ra vào mùa tết. Các loại bếp núc, lò than, khuôn bánh, dàn sấy cũng chỉ được dùng vào mùa này, còn lại thì tất cả được rửa sạch úp lên giá đợi mùa tết sang năm, tuyệt nhiên không sử dụng vào bất kỳ mục đích nào khác. Nhiều gia đình nhà cao cửa rộng, bếp ga, lò nướng hiện đại đủ cả nhưng vẫn không hề có ý định phá dỡ những cái chái bếp làm bánh nho nhỏ sau nhà. Đó là góc nhỏ ấm áp của mỗi gia đình làng biển khi xuân về.
Mùa tết, rảnh rỗi là tôi có mặt bên lò bánh nhà hàng xóm, hồi hộp chờ xem những chiếc bánh được nhấc ra khỏi khuôn, đặt lên giá sấy. Tơi xốp. Bung xé. Vàng ươm. Thơm ngọt. Như là những bông mai vàng nở bừng trên than đỏ. Đẹp đến không nỡ ăn. Ngoảnh nhìn ra sân nắng, cây mai cũng đã lác đác nở. Mai xứ cát có vẻ đẹp rạng ngời và mong manh của nó. Cánh mỏng, mọc thưa, nở lai rai từ trước tết cho đến ra Giêng và thơm nhẹ. Không như mai miền Nam, sây cánh, sây bông, nở rộn ràng đồng loạt trong ba ngày tết rồi thôi. Không biết có đúng không nhưng nghe nói mai xứ này cũng có nguồn gốc từ Huế, do những người lính triều đình ngày xưa mang ra trồng cho ngày xuân đỡ nhớ quê nhà và lưu giống cho đến hôm nay.
Ngồi bên hiên nhà, ăn một chiếc bánh xoài, nhấp một chút trà nóng và ngắm những bông hoa đang tỏa ra thứ ánh sáng huy hoàng trước ngõ, như vậy là đã thấy tết...
Tết ở làng biển thật thơm tho và thanh thản!
Bảo vệ không gian văn hóa đá ở một làng biển
Làng biển Mỹ Quang Nam mong ước một bờ kè chắn sóng