Tận dụng FTA, mở rộng dư địa xuất khẩu
Càng về những tháng cuối năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu duy trì đà tăng nhưng chịu không ít sức ép.
Trong những tháng cuối năm, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) được Bộ Công Thương xác định là một trong những nhóm giải pháp trọng tâm. Cùng với xúc tiến thương mại, tháo gỡ khó khăn về thị trường, hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục đóng vai trò kết nối doanh nghiệp với nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối và các đầu mối tiêu thụ.
Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được định hướng chuyển từ cách làm dàn trải sang xác định cụ thể từng ngành hàng, thị trường và nhóm doanh nghiệp có khả năng đáp ứng. Bên cạnh các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN, việc mở rộng sang Trung Đông, Nam Á, Bắc Âu, châu Phi và Mỹ Latinh sẽ góp phần đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
Hiệu quả của FTA được thể hiện rõ qua 6 năm thực thi EVFTA. Kể từ khi có hiệu lực vào tháng 8/2020, thương mại Việt Nam - EU đạt hơn 383,8 tỷ USD, chiếm 42,6% tổng kim ngạch trong hơn 30 năm quan hệ.
Bước sang năm thứ 7, EU hoàn tất lộ trình tự do hóa thương mại, đưa khoảng 99% hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU được miễn thuế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, thương mại hai chiều đạt 41,4 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 31,8 tỷ USD, nhập khẩu 9,7 tỷ USD, thặng dư khoảng 22 tỷ USD.
Theo EuroCham, EVFTA không chỉ mở rộng thị trường mà còn thúc đẩy doanh nghiệp hai bên tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Khoảng 50% doanh nghiệp châu Âu tham gia thương mại song phương cho biết hưởng lợi trực tiếp từ ưu đãi thuế quan; trong đó 66% ghi nhận mức tiết kiệm tài chính, chủ yếu ở mức 5-15%.
EuroCham cho rằng, dư địa hợp tác còn lớn, đặc biệt trong tiếp nhận công nghệ, máy móc và thiết bị từ châu Âu để nâng năng suất, hiện đại hóa công nghiệp và tăng giá trị trong chuỗi cung ứng.
Không chỉ EVFTA, doanh nghiệp Việt Nam còn khai thác CPTPP, RCEP, VKFTA và các FTA trong khuôn khổ ASEAN để mở rộng thị trường. Tính đến tháng 7/2026, tổng số bộ C/O được cấp theo các FTA đạt hơn 1,2 triệu bộ, với kim ngạch gần 100 tỷ USD, chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, FTA chỉ thực sự trở thành động lực khi doanh nghiệp đủ năng lực đáp ứng các điều kiện đi kèm như quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, môi trường và phát triển bền vững.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, dư địa tăng trưởng xuất khẩu vẫn còn lớn, song cần chú trọng chất lượng tăng trưởng, nhất là mối liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước, khả năng tham gia chuỗi giá trị và mức độ chủ động về nguồn cung.
Theo ông, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần được coi là giải pháp căn cơ. Khi doanh nghiệp trong nước có khả năng cung cấp nhiều hơn linh kiện, nguyên liệu và dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nền kinh tế vừa giảm nhu cầu nhập khẩu đầu vào, vừa giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong nước.
Mở thị trường, nâng nội lực cho hàng Việt
Cùng với tận dụng FTA, mở thêm thị trường đang tạo dư địa đáng kể cho hàng hóa Việt Nam. Việc Ấn Độ cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam là một ví dụ. Theo quy định mới, Việt Nam được bổ sung vào danh sách các quốc gia được phép xuất khẩu sầu riêng tươi vào thị trường này.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng, việc Ấn Độ mở cửa thị trường sầu riêng Việt Nam sẽ giúp ngành rau quả có thêm dư địa đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Việc nắm rõ các quy định kiểm dịch cũng giúp doanh nghiệp chủ động chuẩn bị, sớm đưa sản phẩm vào thị trường này.
Theo Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2026 nhiều khả năng lần đầu tiên cán mốc 1.000 tỷ USD. Xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới cũng tăng nhanh; riêng năm 2025 tăng 78%, với tổng giá trị xuất nhập khẩu qua kênh này đạt khoảng 4,45 tỷ USD. Điều này cho thấy dư địa phát triển xuất khẩu số còn lớn, song doanh nghiệp phải đầu tư bài bản vào quản trị số, dữ liệu, AI, thương hiệu và tiêu chuẩn chất lượng.
Cùng với chuyển đổi số, logistics là mắt xích quan trọng quyết định sức cạnh tranh của hàng hóa. Theo Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050, logistics được xác định là ngành kinh tế quan trọng, có giá trị gia tăng cao và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lược đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành đạt 12-15%/năm trong giai đoạn 2025-2035, tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong GDP đạt 5-7%.
Để logistics thực sự trở thành lực đẩy cho xuất khẩu, những điểm nghẽn về tính đồng bộ và kết nối cần sớm được tháo gỡ. Việt Nam cần phát triển đồng bộ kho bãi, trung tâm logistics, cảng cạn, kết nối khu vực sản xuất với cửa khẩu, cảng biển và thị trường tiêu thụ. Doanh nghiệp logistics cũng cần nâng khả năng cung cấp dịch vụ tích hợp, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu hơn vào quản trị chuỗi cung ứng.
Trước yêu cầu duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu và cải thiện cán cân thương mại, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các bộ, ngành triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Bộ Công Thương được giao phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế, nhất là tiếp cận trực tiếp các hệ thống phân phối hiện đại và chuỗi bán lẻ toàn cầu.
Chính phủ cũng yêu cầu khởi động, đẩy nhanh tiến độ đàm phán các hiệp định thương mại với đối tác mới để mở cửa thị trường cho hàng hóa Việt Nam; trước mắt là khởi động đàm phán với Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR). Đồng thời, tăng tốc xúc tiến thương mại, tận dụng các đơn hàng xuất khẩu, nhất là với những mặt hàng có nhu cầu cao như điện tử, máy móc, nông sản, thủy sản; mở rộng xúc tiến tại các thị trường mới như Halal, Mỹ Latinh và châu Phi.