Khủng hoảng tính đồng nhất
Sự say mê thái quá những trang mạng xã hội có thể làm giảm khả năng tập trung chú ý và là dấu hiệu của hội chứng không biết mình là ai nữa, hay nói theo thuật ngữ khoa học là "khủng hoảng tính đồng nhất" (indetity crisis, thuật ngữ này trong môn tâm lý học được dùng để chỉ hiện tượng một người hoặc một nhóm người bị mất khả năng tự xác định vị trí của mình trong xã hội và về giá trị tự thân của mình).
Đó là ý kiến của nhà khoa học Anh nổi tiếng, nữ GS bá tước Susan Greenfield ở Đại học
"Tại sao ai đó lại cần biết việc ai đã ăn gì trong bữa sáng? - nữ GS Greenfield nhấn mạnh. - Hiện tượng này gợi cho tôi nhớ tới cảnh một đứa bé cứ í a í ới: Mẹ ơi, nhìn này, con đang làm đây này, nhìn con đi, con đang làm đây này...".
Nữ bá tước cũng nói thêm: "Điều đó có vẻ như là con người ấy đang bị khủng hoảng tính đồng nhất". Theo lời bà, tất cả những việc này có thể dẫn tới suy giảm khả năng tập trung chú ý, gia tăng nhu cầu được biết những đánh giá ngay lập tức và đánh mất những thói quen giao tiếp trực diện không cần ngôn ngữ, thí dụ như nhìn vào mắt nhau khi trò chuyện...
Nữ GS Greenfield đã dành cả đời để nghiên cứu về các quy trình vật lý học trong não người, cũng phê phán cả mạng xã hội Facebook và nhận xét: "Đó cũng gần như là người ta sống trong một thế giới phi hiện thực, trong cái thế giới mà sẽ chỉ lo lắng tới những gì mà người khác nghĩ về bạn... Hãy nghĩ nhiều hơn về những hệ lụy đối với xã hội nếu con người sẽ lo lắng nhiều hơn tới những gì mà người khác nghĩ về họ chứ không phải tới những gì mà họ tự nghĩ về mình".
Cũng theo lời của nữ GS Greenfield, trong lúc chúng ta đang phải suy tư về vấn đề này thì tình bạn "ảo" và những trò chơi điện tử đang hàng ngày hàng giờ tác động dần dà làm thay đổi bộ não của con người.
Nữ bá tước Susan Greenfield là một chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực tâm lý học, sinh học thần kinh và dược lý học, đồng thời là một nhà văn nổi tiếng và là thành viên Thượng viện Anh, cách đây vài năm từng đăng đàn trên các phương tiện thông tin đại chúng phê phán các mạng xã hội và sự say mê máy tính nói chung.
Trong hai năm 2008 - 2009, trong một loạt bài trả lời phỏng vấn cho các phương tiện thông tin đại chúng Anh, nữ GS Greenfield đã phát biểu ý kiến về mối liên hệ trực tiếp giữa sự tập trung chú ý của giới trẻ với vai trò ngày một lớn hơn của máy tính trong đời sống con người.
Nữ GS cho biết, trong một thập niên gần đây, các bác sĩ đã phải kê đơn cấp cho bệnh nhân loại thuốc để chữa bệnh mất tập trung chú ý cao gấp ba lần so với trước. Nữ GS Greenfield nhận định, việc này có thể liên quan trực tiếp với việc ngồi hàng giờ liền trước màn hình máy tính.
Cũng theo nữ GS Anh, do phải tiếp xúc nhiều với máy tính, bộ não của trẻ em quen dần với hiện tượng phản ứng tức thì đối với các hành vi của chúng nên dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng tập trung chú ý trong một thời gian kéo dài. Bộ não của con người có khả năng liên tục thay đổi và thích nghi, nhưng cũng rất nhạy cảm với môi trường mà nó đang tồn tại. Vì thế, quá trình tiếp xúc kéo dài với máy tính có thể ảnh hưởng nặng tới chức năng của nó.
Thuật ngữ "khủng hoảng tính đồng nhất" xuất hiện trong khoa học cách đây chưa lâu - ở nửa sau của thế kỷ XX. Người đầu tiên đưa thuật ngữ này vào sử dụng rộng rãi trong khoa học là nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Erik Homburger Erikson (1902-1994), GS Đại học Harvard khi ông tiến hành các nghiên cứu về chứng "thần kinh quân sự" trong đội ngũ thủy binh làm việc trên các tàu ngầm.
Khủng hoảng cá thể xuất hiện như mâu thuẫn, lệch pha của vị thế xã hội hiện hữu của một người hay một nhóm người trước các yêu cầu của tình huống đã bị thay đổi. Chỉ số chủ yếu của nó là sự bất lực trong việc tiếp nhận vai trò mới mà ngoại cảnh bó buộc hay tiếp nhận rồi nhưng không thể thích nghi được.
Các nhà tâm lý học đã tập hợp được một số dấu hiệu chính của hội chứng này:
- Kém tri kỷ (không thể tự đánh giá mình một cách đúng đắn);
- Thiếu tương lai (đánh mất khả năng nhìn nhận đúng triển vọng);
- Nhìn đen tối (gia tăng tâm trạng bi quan);
- Dỗi với đời (suy giảm những hoạt động xã hội tích cực);
- Lòng hổ lửa (cực đoan trong cách đánh giá xã hội và hiếu chiến trong hành xử với xung quanh);
- Mắn dị đoan (quan tâm quá độ tới những vấn đề trừu tượng và phi lý)...
Ánh sáng lừa dối
Nữ bá tước Anh Greenfeld không phải là người duy nhất gióng lên hồi chuông báo động về tác hại của các trang mạng xã hội. Các mạng xã hội có thể lừa dối bộ não và làm thoái hóa các kỹ năng xã hội của con người. Trong một nghiên cứu kéo dài hơn hai chục năm qua với lớp thiếu niên ở độ tuổi 11-15, các nhà khoa học ở Viện Bảo vệ Sức khỏe Quốc gia Đan Mạch đã đi tới kết luận, các em bé ở quốc gia này hiện nay dành thời gian cho việc trực tiếp giao du với các bạn đồng lứa chỉ bằng một nửa so với năm 1988. Phần lớn thời gian rảnh rỗi đều được đám thiếu niên hiện đại dành cho việc ngồi lỳ bên máy tính để chơi game, xem những bộ phim mới và liên lạc với bạn bè qua các mạng xã hội phổ cập như Facebook hay Twitter.
Trong bài trả lời phỏng vấn cho tờ Berlingske Tindende, nhà khoa học chủ trì công trình nghiên cứu trên, Pernille Due, đưa ra nhận xét rằng, hiện tượng trên đã làm thay đổi một cách căn bản hành vi sinh hoạt của giới trẻ hiện đại. Đồng nghiệp của bà Due, nhà tâm lý học Anders Colding - Jorgensen nhận xét thêm rằng, khi ngồi lỳ bên máy tính, trẻ em dần dà đánh mất những kỹ năng xã hội và tác hại từ chuyện này chỉ có thể so sánh với tác hại của việc lạm dụng đồ uống Coca - Cola.
Ông Colding Jordensen lý giải: "Các mạng xã hội như thể lừa dối bộ não. Kết cục là dần dà xuất hiện cảm giác như thể việc giao tiếp qua mạng Internet có thể làm thỏa mãn được các em học sinh. Thế nhưng trong quá trình này về mặt thể chất thì các em hầu như lại không có hoạt động gì cả, không động đến ngôn ngữ của cử chỉ, không cần tới hàng loạt các cảm giác thể chất như mùi vị chẳng hạn. Việc đó cũng như uống Coca - Cola và tưởng rằng cơ thể ta đã được tiếp nhận đủ các chất bổ và vitamin".
GS Paul Kirschner ở Hà Lan bằng con đường thực nghiệm đã phát hiện ra mối liên hệ trực tiếp giữa niềm ham mê các mạng xã hội với điểm số học tập của các học sinh, sinh viên. Nhà tâm lý học này đã tiến hành thí nghiệm với một nhóm 219 sinh viên thuộc một học trường ở Mỹ tuổi từ 19 tới 54 (!) và đã đi tới kết luận rằng, những người vẫn sử dụng các mạng xã hội trong thời gian thực hiện các bài tập ở nhà chỉ được điểm kém so với những người không hành động như thế khoảng 20%. Điểm trung bình của những fans của Facebook là 3,06 (theo thang 4 điểm). Còn những ai không vào mạng xã hội thì thường đạt được điểm trung bình ở mức 3,82...
Tất nhiên, không thể phủ nhận sạch trơn các tác dụng của các mạng xã hội đối với những típ người khác nhau. Cũng theo The Daily Mail, tháng 10-2010, nhà tâm lý học Soraya Mehdizadeh ở Đại học York (tỉnh Ontario, Canada) bằng con đường thực nghiệm đã phát hiện ra rằng, những người mê trang mạng xã hội Facebook có đặc tính tự ti và thường mắc bệnh "ta là ta mà lại cứ mê ta".
Để nghiên cứu, bà Mehdizadeh đã làm việc với một nhóm 100 sinh viên trong độ tuổi từ 18 tới 25. Nhà tâm lý học này đã yêu cầu các sinh viên trả lời test tâm lý và kể về việc họ có thường xuyên vào trang mạng Facebook trong sinh hoạt thường ngày hay không. Kết quả cho thấy, những người càng mắc nặng căn bệnh "ta là ta mà lại cứ mê ta" thì lại càng hay vào Facebook để làm mới thêm những thông tin về mình.
Cũng theo kết quả thu được, những người hay sử dụng Facebook thường rất hay tự ti. Ngoài ra, bà Mehdizadeh cũng phát hiện ra rằng, phụ nữ và đàn ông thể hiện mình trên mạng xã hội theo những cách khác nhau: giới mày râu thường thích đưa những comment bằng lời, còn phái đẹp thì lại thích trưng lên những tấm ảnh nhìn nghiêng của mình.
Nhà tâm lý học Mehdizadeh lý giải những kết quả nghiên cứu thu được rằng, Facebook cho phép những người tự ti có thể tạo dựng cho mình một cách dễ dàng hơn những cuộc làm quen mới và cung cấp thêm không gian để họ tự thể hiện mình. Tuy nhiên, lạm dụng Facebook luôn là việc lợi bất cập hại