Anh bạn tôi là người miền Trung, ra Hà Nội học và đi làm, lấy vợ đến nay đã ngót 20 năm mà vẫn chưa có được tấm hộ khẩu thành phố. Từ khi còn ngồi trên giảng đường đại học năm cuối, với quyết tâm cho con trai bám trụ thành phố, lập "tiền đồn" phát triển cho con cháu sau này, cả nhà bạn đã tập trung đủ mọi nguồn lực để có được miếng đất riêng ở một quận trung tâm. Tốt nghiệp đại học, đi làm, lấy vợ, sinh con đầy đủ cả, vậy mà trẻ con nhà bạn chưa một lần được điền vào hồ sơ hai chữ "đúng tuyến". Nhà của bạn chẳng phải đất nhảy dù lấn chiếm hay tranh chấp chưa hợp pháp nào đó.
Câu chuyện đơn giản chỉ bởi người chủ cũ không chịu thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước nên không thể sang tên đổi chủ. Một chút nhập nhèm với tờ giấy mua bán viết tay thiếu giá trị pháp lý đã khiến gia đình bạn tôi dở khóc dở cười bao phen. Nhà mình ở mà lại không phải của mình. Cái "điệp khúc" có sổ đỏ mới có hộ khẩu, có hộ khẩu mới có sổ đỏ cứ đeo đẳng bạn mãi.
Những tưởng khi Luật Cư trú có hiệu lực, cái vòng luẩn quẩn ấy sẽ chấm dứt nhưng rồi lại đến khâu xin "giấy xác nhận tình trạng đất" nó ghìm bạn lại. Nhà của mình ở, đất của mình bỏ tiền ra mua, nhưng lại vẫn phải đi xin giấy xác nhận tình trạng đất để đủ điều kiện có chỗ ở hợp pháp. Lại là câu chuyện xin - cho với biết bao phiền toái.
Lần này, với những thay đổi về việc nới lỏng khái niệm về "chỗ ở hợp pháp" của Nghị định 31/CP, bạn tôi và nhiều người khác đang rất mong muốn có được một quyền lợi chính đáng sau bao nhiêu năm chờ đợi.
Trung tá Phạm Văn Hiển, Đội trưởng Đội Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an quận Hoàn Kiếm cho biết, đối với những trường hợp tương tự như trên, vướng mắc chủ yếu là việc lấy được giấy xác định tình trạng đất. Ủy ban nhân dân phường, xã là cơ quan cấp giấy xác nhận này. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, bởi vì trước đây mua bán nhà đều là giấy viết tay, không thể có sự tham gia chứng thực của chính quyền, nên việc cấp giấy rất cần sự hợp tác của người chủ nhà cũ.
Với nhà quản lý, họ mới là người đứng tên trong giấy tờ một cách hợp pháp, mặc dù trên thực tế nhà, đất của họ đã sang nhượng và không còn thuộc quyền sở hữu từ lâu. Một trong những nội dung mà Nghị đinh 31/CP lần này đề cập chính là để gỡ những vướng mắc dạng đó. Theo đó, nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố ấy.
Như vậy là Nghị định đã "mở" rất rộng về quy định chỗ ở hợp pháp. Chỗ ở đi thuê, mượn vẫn có thể được coi là căn cứ để xin nhập tịch, miễn là nó đảm bảo điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của từng thành phố. Như ở Hà Nội, theo Nghị quyết 11 của HĐND thành phố quy định là 15m2 trên một đầu người. Đối với trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân, Nghị định còn mở thêm hướng xác định nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.
Các điều kiện mở thì như vậy, nhưng trên thực tế, xác định được một chỗ đi thuê, đi mượn hoặc ở nhờ đủ tiêu chuẩn nhập hộ khẩu không hề dễ dàng. Để đạt được điều kiện ấy, phải ít nhất có 2 tiêu chí: Tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn hoặc cho ở nhờ phải có hợp đồng cho thuê, cho mượn hoặc cho ở nhờ bằng văn bản trùng khớp với thời gian đủ điều kiện nhập khẩu theo quy định. Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, hoặc cho ở nhờ phải có đủ tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ với Nhà nước.
Chỗ ở ấy không có tranh chấp, không vi phạm quy hoạch, chỉ giới, lấn chiếm là đương nhiên. Và để tạo thuận lợi và bảo đảm quyền lợi cho công dân, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú trước đây đã mở rộng thêm điều kiện đăng ký thường trú vào thành phố trực thuộc trung ương cho một số đối tượng có quan hệ họ hàng thân thích về ở với nhau khi được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình.
Cụ thể, đó là trường hợp ông bà nội, ngoại về ở với cháu ruột; người thành niên độc thân về sống với anh, chị, em ruột hay cô, dì, chú, bác, cậu ruột (trước đây Luật Cư trú quy định người thành niên độc thân chỉ được đăng ký thường trú vào thành phố trực thuộc trung ương khi về sống với ông, bà nội, ngoại).
Tuy nhiên, với điều khoản mở này thì vướng mắc lại nằm chủ yếu ở khâu, theo Trung tá Phạm Văn Hiển, giấy tờ chứng minh mối quan hệ họ hàng. Đặc biệt là trường hợp nhập khẩu vào gia đình cậu ruột. Đa số trường hợp vướng mắc đều không thể xuất trình được giấy tờ hợp lệ (thường là giấy khai sinh) để chứng minh mối quan hệ họ hàng, mặc dù các thỏa thuận bằng văn bản khác đều đủ cả?
Một trong những điểm khác biệt khi Nghị định 31/CP có hiệu lực trong thời gian tới, đó là cách tính thời gian tạm trú rất có lợi cho người dân. Theo đó, người có thời gian tạm trú liên tục tại thành phố trực thuộc trung ương từ 1 năm trở lên với trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố, nói ngắn gọn là khu vực ngoại thành, và từ 2 năm trở lên với trường các quận nội thành đều thuộc diện được xét nhập tịch.
Riêng với thủ đô Hà Nội, thời gian cư trú phải liên tục trong vòng 3 năm. Và sự liên tục ấy phải được thể hiện bằng giấy tờ chứng minh, ở đây thể hiện qua việc khai báo tạm trú tại chính quyền địa phương nơi cư trú. Đưa cho chúng tôi xem một quyển sổ tạm trú bìa màu xanh, giữa in Quốc huy rất đẹp, không kém gì một quyển sổ hộ khẩu, Trung tá Phạm Văn Hiển giải thích thêm rằng, mấu chốt vấn đề thời gian mà Nghị định 31/CP mở ra, đó là tính tổng thời gian cư trú. Có nghĩa là một người có 3 năm sinh sống và làm việc ở Hà Nội, năm đầu do công việc nên họ tạm trú ở quân Cầu Giấy. Năm thứ 2 chuyển công tác, họ chuyển nhà sang quận Thanh Xuân. Năm thứ 3 có sự thay đổi, lại chuyển về quận Hoàn Kiếm. Toàn bộ thời gian cư trú ấy sẽ được cộng dồn, tính đủ 3 năm sinh sống và làm việc ở thủ đô để đạt đủ điều kiện xét nhập hộ khẩu thường trú. Chỉ có điều phải lưu ý, đó là trên văn bản, giấy tờ phải thể hiện quãng thời gian ấy là liên tục.
Một trong những thắc mắc của người đi làm hộ khẩu mà các cán bộ trực tiếp tiếp nhận hồ sơ rất hay phải giải thích đi giải thích lại, đó là người nhập khẩu thường hay bị nhầm lẫn giữa khoản Khoản 1 và Khoản 3 của Điều 20, Luật Cư trú. Theo Khoản 1 quy định, công dân có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ 1 năm trở lên (theo Luật sửa đổi là 1 năm với ngoại thành, 2 năm với nội thành và nếu theo Luật Thủ đô thì sẽ là 3 năm).
Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản. Tại Khoản 3, về điều kiện chỗ ở hợp pháp y hệt như đối với Khoản 1, song lại quy định công dân nếu được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn. Giống nhau một nửa điều kiện, nhưng khác nhau hẳn về bản chất của việc nhập khẩu. Tùy vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi cá nhân, sẽ có cách thực hiện hồ sơ nhập khẩu cho phù hợp với tình trạng của mình.
Một điểm được nhấn mạnh trong quy định lần này, đó là nơi đề nghị đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú. Điều này không mới, song đi vào thực tế mới thấy đây là một câu chuyện không kém phần phức tạp. Quyền tự do cư trú của công dân ghi nhận trong Hiến pháp đã được cụ thể hóa bằng Luật Cư trú với những quy định rõ ràng, cụ thể, thông thoáng về thủ tục, điều kiện đăng ký cư trú, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước về cư trú trong tình hình mới, góp phần tích cực, có hiệu quả trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên, chỉ tính riêng TP Hà Nội đã có hơn 1 triệu nhân khẩu có hộ khẩu tại một nơi, nhưng lại cư trú tại nơi khác. Thống kê cho thấy nhiều trường hợp đã bán nhà hoặc nhà thuộc diện giải tỏa để giải phóng mặt bằng, đã được đền bù thỏa đáng theo quy định của pháp luật và thực tế đã đến địa bàn khác để cư trú nhưng vẫn không làm thủ tục đăng ký thường trú, với mục đích để không phải thực hiện các nghĩa vụ của công dân đối với địa phương nơi thực tế cư trú (như nghĩa vụ quân sự, nộp các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật…).
Một điều rõ ràng là hàng năm, chính quyền các địa phương phải căn cứ vào hộ khẩu để hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của mình. Nếu những người này không làm thủ tục đăng ký thường trú khi đã thay đổi chỗ ở hợp pháp thì chính quyền nơi họ đã chuyển đi vẫn phải thống kê và thực hiện các nghĩa vụ được giao trong khi nơi họ chuyển đến lại không thống kê. Điều này sẽ dẫn đến số liệu thống kê không chính xác và nhiều hệ lụy khác về mặt quản lý.
Đó là chưa kể, quyền lợi của chính họ cũng sẽ không được bảo đảm khi có phát sinh trong cuộc sống. Một ví dụ đơn giản: Cháu muốn nhập vào hộ khẩu của ông bà nội. Tuy nhiên, ông bà nội đã chuyển nhà hơn một năm nay, không còn ở chỗ cũ nữa, nhưng hộ khẩu chưa chuyển. Đây khớp trường hợp nơi đăng ký thường trú không trùng với nơi cư trú. Ông bà không thể nhập khẩu được cho cháu, nếu không đi làm lại giấy tờ, chuyển hộ khẩu cho đúng với nơi mình đang ở