1. Một sáng mùa thu, Hà Nội xuất hiện những cơn gió heo may bất chợt. Chúng tôi tìm đến một ngõ nhỏ nằm trên đường Đội Cấn, một bà cụ tóc bạc trắng thận trọng ra mở cửa, nét mặt phúc hậu, giọng nói ôn tồn của bà đã khiến chúng tôi không còn vẻ e ngại nữa: "Các cháu vào đi", bà nói. Cảm nhận về một gia đình nền nếp từ những chi tiết rất nhỏ, mọi vật đều ngăn nắp gọn gàng và rất… ấm cúng. Chị Hải Đường (cán bộ Cảnh vệ) nói nhỏ: "Cụ Thuận đã 90 tuổi rồi đấy". Tôi ngạc nhiên về sự trẻ trung và bất ngờ hơn nữa khi trò chuyện với chúng tôi, bà vẫn rất minh mẫn, khúc triết khi lý giải từng vấn đề về cuộc sống, gia đình… Chúng tôi xin bà kể về chuyện tình của ông bà và chuyện nuôi dạy con cái lớn khôn của một phụ nữ luôn bận rộn như bà.
Bà Nguyễn Thị Bích Thuận sinh ra và lớn lên trong một gia đình công nhân ở xóm dân nghèo thuộc phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Thời thiếu nữ, cô gái xinh đẹp Nguyễn Thị Bích Thuận được bố yêu chiều và giáo dục đến nơi đến chốn. Nhà tuy nghèo nhưng hai chị em Thuận vẫn được bố cho học hành tử tế. "Bố tôi bảo, con gái cũng phải học để có trình độ, có một cái nghề để tự lập, lấy chồng thì nhà chồng mới không coi thường", bà Thuận nhớ về bố mình.
Trở thành nữ sinh Đồng Khánh thời ấy là vinh dự lắm, cô Thuận đi dạy học và tham gia phong trào cách mạng, phong trào phụ nữ cứu quốc. Ngày Tổng khởi nghĩa, cô gái Hà thành xinh đẹp ấy đã gặp nhiều cán bộ cách mạng yêu nước. Cô được tổ chức phân công "đưa một số chị em vào Ty Liêm Phóng làm công tác nuôi quân". Đó là ngày Thuận trở thành chiến sĩ Công an cùng một số nữ sinh Đồng Khánh. Tuy vậy cũng sợ, vì ở nhà chẳng biết nấu nướng gì, giờ làm nhiệm vụ nấu cơm nuôi quân thì rất lo. Nhưng rồi cứ cố gắng học hỏi thì việc gì được giao cũng hoàn thành.
Thuận tiếp tục được cử đi học Đại học Y dược Hà Nội. Năm 1961 tốt nghiệp bằng đỏ. Vậy là nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thuận được chuyển sang làm công tác Cảnh vệ. Được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ, bảo vệ Đảng bằng khoa học. Ấn tượng trong đời nữ cảnh vệ trẻ là góp phần bảo vệ an toàn Đại hội Đảng lần thứ 3, với nhiệm vụ kiểm nghiệm hóa thực phẩm.
Chỉ sau 2 năm bà được đề bạt Phó phòng, Trưởng phòng và Cục phó Cục Cảnh vệ (năm 1975) nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ - Bộ Công an. Bà đã xây dựng Phòng Kiểm nghiệm thực phẩm phát triển và trưởng thành nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng. Bảo vệ Bác Hồ, Bộ Chính trị, khách quốc tế an toàn, chưa bao giờ xảy ra sơ suất để ảnh hưởng đến sức khỏe…
Thời gian được ở gần bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ là quãng đời đáng nhớ, những bài học lớn được rút ra từ sự gần gũi ân cần của Người. Đi làm bảo vệ phải hết sức bí mật, không được để Bác xa quê, xa dân, đó là đường lối và quan điểm bảo vệ mà bà đã thực hiện. Bà Thuận vẫn rất nhớ về kỷ niệm một lần đi bảo vệ Bác. Hôm ấy, đưa Bác về quê, lúc tiễn Bác lên máy bay trở về Hà Nội, bà lặng lẽ theo sau. Bác bảo: "Cô còn lạ gì Bác mà theo". Bà Thuận vội nói: "Cháu tiễn Bác về". Ở ga Vinh, khi tiễn Bác lên máy bay, Bác bảo: " Cháu đứng xa ra kẻo cánh máy bay gạt vào người…". Sự chỉ bảo ân cần của Bác đối với nữ Cảnh vệ trẻ như bà chẳng khác nào tình cảm cha và con…
2. Kể về tình yêu của mình với người chồng hết mực yêu thương, bà Thuận vẫn rất trìu mến như lúc tuổi thanh xuân, dù ông đã qua 100 tuổi và đã 17 năm đi xa bà mãi mãi. "Anh Lương bị địch bắt đày ra Côn Đảo 15 năm. Cách mạng Tháng 8 thành công mới được trở về, cùng chuyến tàu với Bác Tôn", bà Thuận nhớ lại.
Sau đó, cô gái Bích Thuận xinh đẹp ở lớp chính trị khóa Ngô Gia Tự (năm 1947) biết một thanh niên ít nói cùng lớp, có đôi mắt sáng rực tên là Lê Văn Lương. "Một lần anh Lê Đức Thọ gặp tôi ở lớp và giới thiệu tôi với anh Lương. Anh muốn những đồng chí tốt gặp nhau", bà Thuận vẫn nhớ như in. Từ đó, tình yêu của họ lồng trong tình yêu cách mạng, một năm sau (tháng 3/1948), họ cưới nhau ở căn cứ Định Hóa (Thái Nguyên). Đám cưới giản dị mà ấm cúng, có Bác Tôn làm chủ hôn, Bác Hồ gửi thiếp chúc mừng "Chúc Lương - Thuận đoàn kết chặt chẽ". Họ đã hứa với Bác và các đồng chí rằng sẽ mãi mãi yêu nhau và cống hiến cho cách mạng. Đó là tình yêu do Đảng xây dựng và họ đã nắm tay nhau đi suốt cuộc đời.
Về cuộc sống gia đình, chưa bao giờ ông bà cãi nhau, lúc nào bà giận thì chỉ "chiến tranh lạnh". Ông Lương gần gũi nhẹ nhàng an ủi: "Thôi đừng giận anh nữa, con giận còn buồn, vợ giận còn buồn hơn. Anh có phúc mới gặp được em…". Vậy là họ lại hiền hòa. Bà luôn là người mẹ, người vợ tảo tần và là người giữ "lửa" trong gia đình, còn ông thì cứ đi làm cách mạng, xa nhà biền biệt.
Dưới bàn tay chăm sóc dạy dỗ và sự yêu thương của người mẹ hiền, các con bà từng ngày khôn lớn trưởng thành. Bà Thuận chia sẻ, phụ nữ mà cứ chao chát là không dạy được con. Có lần ông Lương nói với các con rằng: "Bố có khuyết điểm. Bố chỉ công tác thôi còn công nuôi dạy là của mẹ các con. Sự nghiệp của bố là 50% của mẹ". Bây giờ, 5 người con của ông bà đều đã thành đạt nên người, thế hệ các cháu cũng đều tốt nghiệp đại học.
Đưa chúng tôi xem tấm ảnh chụp đại gia đình, bà Thuận cười hạnh phúc. Một nếp nhà do bàn tay bà vun đắp nay đã đơm hoa kết trái và cho đời quả ngọt. Bí quyết dạy con nên người của bà là dạy con từ những điều nhỏ nhất, như đôi dép lúc vào nhà cũng phải để quay ra, tới những việc lớn như đi đâu phải xin phép, làm việc gì phải báo cáo bố mẹ. Và, một nguyên tắc quan trọng, đó là phải kiên quyết với những việc làm sai của con…
Bây giờ, dẫu cuộc sống thời hiện đại bận rộn, căng thẳng bởi áp lực công việc nhưng cứ vào ngày "truyền thống gia đình" là các con, các cháu lại trở về ngôi nhà thân thương để sum vầy, chia sẻ cùng với mẹ già… Và ở đó, hình ảnh của người cha yêu quý cống hiến trọn đời cho cách mạng vẫn còn nguyên vẹn. Mỗi ngày bà Thuận lại đến bàn làm việc của ông để lau chùi từng hạt bụi, thắp nén nhang thơm cho ông trở về chứng kiến cảnh gia đình sum vầy, cháu con thành đạt.
Hạnh phúc trong gia đình Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận, tôi đã đọc được trong câu đối mà Giáo sư Vũ Khiêu tặng bà: "Thuận đạo tương giao biển rộng trời cao đôi cánh én/ Lương duyên kết ước sao rời vật đổi một lòng son"