Hoạt động buôn bán qua lại biên giới với Trung Quốc liên tục tăng trưởng trong 5 năm gần đây với tốc độ khoảng 30%/năm. Riêng năm 2011, tổng kim ngạch thương mại là 7,1 tỷ USD. Là một thị trường dễ tính, Trung Quốc đã tiêu thụ một khối lượng lớn nông sản chất lượng không cao của Việt Nam, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, dịch vụ vận tải và phần nào cải thiện đời sống của nhân dân khu vực biên giới. Tuy nhiên,ở thế thụ động, thương nhân Việt Nam phải “tự bơi” trong thị trường Trung Quốc rộng lớn và thay đổi chóng mặt, thường xuyên bị “ép” và chịu rất nhiều thiệt thòi khi buôn bán với đối tác.
Thương nhân Việt luôn ở thế yếu
Theo tổng kết của Bộ Công thương trong giai đoạn 2006 – 2011, dù kim ngạch xuất khẩu của ta vào Trung Quốc tăng trưởng khá ấn tượng, nhưng các mặt hàng chủ yếu là nguyên liệu thô và mới sơ chế, có giá trị không lớn, chất lượng chưa cao. Hàng xuất chủ yếu là tinh bột sắn, sắn lát, trái cây, các sản phẩm nông sản, than, cao su, thực phẩm, quặng. Trong số này, đáng khuyến khích nhất là nhóm nông sản, thực phẩm khi Trung Quốc là một thị trường dễ tính lại có khoảng cách địa lý khá gần.
Tuy nhiên, từ nhiều năm nay “mùa nào thức nấy”, việc nông sản của Việt
Chính sách thương mại biên giới Trung Quốc được phân cấp cho các chính quyền địa phương tự điều chỉnh nên thay đổi rất nhanh, lúc thì cho nhập nhiều mặt hàng của Việt Nam, lúc thì hạn chế, lúc thì cấm. Không có thông tin thị trường, các DN Việt
“Do hoạt động biên mậu của chúng ta phụ thuộc nhiều vào chính sách biên mậu của họ nên thường bị động, thua thiệt mỗi khi họ thay đổi chính sách. Như có thời điểm phía Trung Quốc thắt chặt việc kiểm soát hàng nhập khẩu, hàng ngàn container hàng đông lạnh đã kẹt lại tại cảng Hải Phòng, gây khó khăn về cấp điện để bảo quản lạnh và ảnh hưởng đến môi trường” - ông Nguyễn Đình Minh, Phó Giám đốc Sở Công thương Hải Phòng, cho biết.
Điều tương tự cũng xảy ra tại các cửa khẩu khi nông sản (đặc biệt là dưa hấu và vải thiều) của chúng ta vào chính vụ. Chưa kể đến qua theo dõi thanh toán của hoạt động buôn bán biên giới, Vụ Quản lý ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước) cho biết: Do thuế suất đối với cùng một mặt hàng theo đường chính ngạch cao hơn nhiều so với tiểu ngạch, nên các thương nhân Trung Quốc thường ép thương nhân Việt Nam xuất tiểu ngạch.
Vì vậy, nhiều DN vẫn lựa chọn thanh toán bằng tiền mặt hoặc đưa qua tư nhân chuyển tiền, gián tiếp tạo điều kiện cho các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại. Không chỉ có thế, do chịu áp lực từ nỗ lực đẩy mạnh quá trình quốc tế hóa đồng nhân dân tệ, DN Việt Nam thường bị ép nhận nhân dân tệ khi xuất hàng, nhưng lại phải trả bằng USD khi nhập khẩu.
Chủ động thông tin để tránh bị ép giá
Nhìn thấy được những bất lợi, mới đây Bộ Công thương cùng Bộ NN&PTNT đã đồng chủ trì xây dựng “Đề án đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường Trung Quốc”. Mục tiêu của đề án là tạo sự liên kết giữa các nhà sản xuất và nhà phân phối xuất khẩu mặt hàng nông sản sang thị trường Trung Quốc, giúp các thương nhân ký kết hợp đồng, đóng gói và ghi nhãn mác hàng hoá theo quy định của đối tác, điều tiết, nâng cao năng lực giao nhận - vận chuyển hàng hoá từ vùng sản xuất đến các cửa khẩu.
Chúng ta cũng đang hướng đến mục tiêu cao hơn là đẩy mạnh các mặt hàng nông sản đã qua chế biến vào các TP lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải chứ không chỉ 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam như từ trước tới nay. Trong các giải pháp để chấm dứt tình trạng bị “ép” cho các thương nhân Việt Nam, Bộ Công thương cũng đã đề cập đến việc cần phải có một cơ quan đầu mối thuộc Sở Công thương các tỉnh biên giới Việt Trung để tổng hợp, phân tích tình hình thị trường và chính sách quản lý biên mậu của Trung Quốc để chủ động cung cấp thông tin cho DN.
Mặt khác, cơ quan chức năng cũng đang nghiên cứu những cơ chế hỗ trợ, khuyến khích DN đầu tư xây dựng trung tâm phân phối, trung chuyển hàng hóa, các kho bảo quản hàng hóa như thủy sản, rau quả tươi để chủ động trữ hàng, giảm bớt rủi ro trong trường hợp bị từ chối nhận hoặc bị ép giá như những năm qua