Một mình giữa "hang cọp", ông vẫn luôn vẹn nguyên một tấm lòng trung trinh với Đảng, với đất nước, nhân dân, sống, hoạt động, xây dựng cơ sở, tổ chức đấu tranh. Ông cũng là một trong những người đầu tiên tham gia khai phá con đường lịch sử: đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Sau gần một thế kỷ, ngồi kể lại chuyện xưa, ông vẫn bảo, đó là vinh dự, là trách nhiệm với đất nước, với nhân dân. Những gì có lợi cho dân, cho nước đều nên làm, phải làm và tất nhiên dân sẽ nghe theo…
Chồi non trên đất Nga Sơn
Ông Đặng Bá Tiên nhớ lại, ngay trước Cách mạng Tháng Tám, xã Nga Liên, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tuy là địa phương nhiều đồng bào công giáo, bản thân ông và gia đình đều là những tín đồ ngoan đạo nhưng giác ngộ từ rất sớm. Cha, chú, cậu và 2 người anh của Đặng Bá Tiên đều là đảng viên, cơ sở nòng cốt của cách mạng. Bản thân ông, 13 tuổi đã trở thành cầu nối, đưa thư từ, liên lạc và có nhiệm vụ cảnh giới mỗi buổi họp kín của các bậc cha, chú. Cách mạng thành công, cậu bé ấy vui vẻ vác loa đi tuyên truyền khắp đầu làng cuối xóm. Tháng 3/1949, Đặng Bá Tiên chính thức được kết nạp Đảng.
Năm 1952, ông trở thành cán bộ thuộc Ban Tôn giáo vận của Thanh Hóa. Tài ăn nói, sự chăm chỉ, nhiệt tình sức trẻ cộng với uy tín của một gia đình đứng đầu một họ đạo giúp ông nhanh chóng giành được cảm tình của bà con lối xóm cũng như khá nhiều địa phương, tỉnh thành tập trung nhiều đồng bào giáo dân khác đang sinh sống. Chính những tháng ngày đi về trong các chuyến công tác đã giúp ông và người nữ cán bộ trẻ của Huyện ủy Hoằng Hóa, Lương Thị Minh Xuân nên duyên. Đám cưới đơn giản, đầm ấm nhưng vì điều kiện công tác nên bà nói đùa rằng cuộc sống vợ chồng mà không khác… tình nhân.
Năm 1955, đang "cắm chốt" ở vùng nổi tiếng đồng bào công giáo, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, Đặng Bá Tiên đột ngột được "gọi" về Thanh Hóa nhận nhiệm vụ mới: trà trộn theo dòng người vào miền Nam, làm công tác "đầu thai" những hạt giống cách mạng trong lòng địch. Đi không hẹn ngày về, không được phép thư từ liên lạc, độc lập và tự chủ trong mọi hoàn cảnh, tình huống. Đi là chấp nhận có thể hành động thành công mà chưa kịp được ghi nhận, ngã xuống là liệt sĩ vô danh, thậm chí không có điều kiện để được công nhận là liệt sĩ. Nhưng, đi cũng là vinh dự, là niềm tin mà Đảng gửi gắm và không phải ai cũng có được vinh dự ấy.
Nhớ lại thời điểm nghe tin ông nhận quyết định đi
Đưa chồng qua bến đò ngang sông Mã, đến người nhà ông Tiên ở trên tỉnh Thanh Hóa thì vợ chồng từ biệt. Bà Xuân bảo bà không khóc bởi bà tin tưởng ông nhất định giữ vững lập trường, sống, chiến đấu và nhất định sẽ trở về. Ngày tiễn ông đi, với hầu hết các thành viên trong gia đình, nước mắt đều buộc phải chảy ngược vào trong…
Một mình trong lòng địch
Được tổ chức thay tên đổi họ, chuẩn bị đầy đủ giấy tờ hợp pháp, Đặng Bá Tiên cùng dòng người di cư được chuyển đến "chiếc tàu há mồm" của Pháp rồi chuyển sang tàu lớn hơn của Mỹ đang chờ ngoài khơi xa. Sau 3 ngày 3 đêm, tàu cập bến. Không có người thân nào đón, ông Tiên được chuyển về khu dân di cư Châu Thành, Tiền Giang. Lang thang chưa biết ở đâu, bất ngờ gặp Hương Mai, một người đồng hương. Có người từng tham gia công tác tại xã, theo gia đình họ mạc mà vào. Người nọ giới thiệu người kia. Cái tình của người xa quê, bất ngờ gặp lại trên bước đường lưu lạc càng ấm áp.
Tạm yên tâm về chỗ ở, bất ngờ một đồng hương khác thông báo: Cha Thục cũng vào đây rồi. Đặng Bá Tiên giật mình, nhủ thầm: Ở đây không ổn vì ông cố đạo này biết rất rõ ông là đảng viên. Đặng Bá Tiên dạt về An Hiệp, Châu Thành tiếp tục gây dựng cơ sở mới. Một lần, theo lực lượng trai tráng về Phước Thạnh, Bình Đại, Bến Tre, thấy hàng chục con người tản mát tìm nơi ở tạm, trong khi đó ngôi đình gần đó rộng rãi, thoáng mát. Người trông coi sợ thợ vào ở, mất vệ sinh, gây ô uế. Tài thuyết phục người khác sau bao năm gắn bó với công tác dân vận được ông vận dụng triệt để. Người coi đình đồng ý. Có nơi ở, cùng phận làm thuê cũng dễ bảo nhau. Uy tín của Đặng Bá Tiên theo đó cũng lớn dần.
Hòa vào biển lớn
Cần mẫn công tác, chờ đợi hiệu lệnh từ cấp trên, nhưng mãi đến năm 1958, khi các cuộc đấu tranh tại Phước Thạnh, Bình Đại, Bến Tre từng bước gây tiếng vang, Đặng Bá Tiên trở thành "người nhà" của hàng trăm hộ dân với tên gọi mới: Tư Bắc thì những người cùng chiến tuyến với ông mới công khai xuất hiện. Thực ra, những hoạt động lâu nay của Tư Bắc không lọt ngoài vòng quan sát của lực lượng cách mạng địa phương. Ông cũng không thể ngờ, đã có những buổi đến ngồi phòng khách nhà dân tuyên truyền, đích thân Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, đồng chí Nguyễn Thị Định đã ngồi trong buồng lắng nghe từ đầu đến cuối.
Nhận ra đây rất có thể là đồng đội, bà đã lặng lẽ theo dõi, bảo vệ và ủng hộ. Cho đến một ngày, Tư Bắc được Bảy Hiếm, một ông cụ từng tham gia chính quyền xã sau Cách mạng Tháng Tám và cũng là một trong những địa chỉ tin cậy để tuyên truyền đột ngột mời đến nhà. Tại đây, bà Nguyễn Thị Định (chị Ba Định) đã chờ sẵn để thẩm định trực tiếp. Họ tên đầy đủ cùng một phần lý lịch của Đặng Bá Tiên được điện báo về trung ương. Tin phản hồi xác nhận sự thật, ông như hổ mọc thêm cánh.
Phong trào cách mạng lên cao, địch đàn áp, lùng bắt các chiến sĩ cách mạng. Đặng Bá Tiên phải lánh ra rừng, chính thức sát cánh chiến đấu cùng những người cộng sản Bến Tre, bổ sung về Huyện ủy Bến Tre, được chị Ba Định đề nghị kết nghĩa chị em. Lúc này, ông mới được biết, đã có thời điểm, ông suýt bị chính đồng đội sát hại vì nghi ngờ là người của địch cài cắm vào.
Năm 1960, phong trào Đồng Khởi bùng lên tại Bến Tre. Tháng 4/1960, Đặng Bá Tiên được đồng chí Nguyễn Thị Định điều về công tác tại Ban Dân vận Tỉnh ủy, đặc trách xây dựng, phát triển cơ sở trong tôn giáo, đổi tên mới là Sáu Giáo. Kinh nghiệm của một cán bộ lâu năm trong Ban Tôn giáo vận từ ngày còn ở miền Bắc tiếp tục được phát huy triệt để.
Một ngày tháng 2/1961, Sáu Giáo được chị Ba Định kêu lên và cho biết việc chọn người ra Trung ương báo cáo về tình hình Đồng Khởi và mở đường mòn trên biển, vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Biết nhiều hộ dân di cư không thích nghi với cuộc sống trong Nam đã từng vượt biển trở ra Bắc thành công, Sáu Giáo không ngần ngại khẳng định việc đó hoàn toàn có thể làm được. Ông xin chị Ba cho phép 20 ngày để chuẩn bị trước. Vốn là dân biển, từng ra khơi đánh cá, có ít nhiều kinh nghiệm, Sáu Giáo còn tìm đến nhiều hộ dân khác để tìm hiểu thêm, vừa thử nghiệm và thu thập thêm tình hình địch bằng chuyến đi ngắn ra Huế rồi trở lại báo cáo. Tính toán cặn kẽ, ông báo cáo phương án vượt biển.
Được chấp thuận, ngày 1/6, thuyền trưởng Sáu Giáo (Đặng Bá Tiên) cùng 5 thủy thủ khác là Năm Kiệm (Nguyễn Văn Tiến), Sáu Đức (Nguyễn Văn Đức), Tư Đen (Nguyễn Văn Giới), Tư Bê (Nguyễn Văn Thọ) và Hai Hùng (Nguyễn Văn Nhung) tập kết tại Cồn Tra, Thạnh Phong, Thạnh Phú, Bến Tre, đưa thuyền xuất phát.
Đang là đầu mùa mưa nên chỉ 2 giờ sau, thuyền gặp ngay trận mưa lớn, nhiều lúc tưởng bị lật úp. Rất may, trận cuồng phong không kéo dài. Sau 4 ngày lênh đênh trên biển, thuyền đến Phú Yên. Thuyền trưởng Sáu Giáo cho tàu cập bờ, mua thêm lương thực, nước ngọt, chuẩn bị vượt Cửa Tùng. Phải chuẩn bị thật kỹ bởi đây là chặng đường vô cùng nguy hiểm vì giấy phép đánh cá không còn giá trị, hay gặp tàu địch tuần tiễu.
Dù thuyền nhỏ nhưng để đảm bảo an toàn, Sáu Giáo cùng các thủy thủ buộc phải cho thuyền chạy mãi ngoài hải phận quốc tế. Mở hết tốc lực chạy về phía Bắc, khi đã chắc chắn thuyền ở hải phận miền Bắc, tàu mới chuyển hướng vào đất liền. Nhìn những con thuyền chong đèn đánh cá, đoán xét kiểu dáng thuyền cùng cách ăn mặc của người dân, Sáu Giáo cùng đoàn thủy thủ vui mừng xác định, chuyến đi đã thành công.
Trùng phùng
Sau các thủ tục kiểm tra, đoàn thủy thủ được đưa về Thủ đô Hà Nội, trực tiếp gặp đồng chí Lê Duẩn và Phạm Hùng để báo cáo tình hình và đề đạt nguyện vọng của quân, dân miền Nam. Biết mình đã có con trai 6 tuổi, đang ở Hà Nội, đoán định con trai ở Trại học sinh miền
Dò hết danh sách không có, ông buồn bã trở về mà không hề biết, con trai Đặng Xuân Dũng đang ở Trại Nhi đồng Trung ương, cách Trại học sinh miền Nam không bao xa. Ít ngày sau nữa, cuộc trùng phùng với vợ con mới trở thành hiện thực. Bà Minh Xuân đã là cán bộ y tế, đang theo học thêm tại Hà Nội. Ngày đoàn tụ, cậu bé Xuân Dũng nhất định không chịu nhận ông làm cha, bởi từ nhỏ Xuân Dũng chỉ được biết, cha cậu đang ở Tiệp Khắc. Đêm ngủ, cậu ôm chặt mẹ không rời. Đi học về, thấy cha mẹ ngồi nói chuyện với nhau là khóc toáng rồi bỏ ra ngoài. Mãi sau này, khi bà nội lên, vừa xác nhận, vừa giải thích, đem cả bàn chân của hai bố con ra so sánh, Xuân Dũng mới chịu. Chỉ tiếc rằng, thời gian cha con thân thiện với nhau không lâu, bởi gần nửa tháng sau đó, ông đã lại khoác ba lô, tạm biệt vợ con, lên đường nhận nhiệm vụ mới…
Vĩ thanh
Chuyến vượt biển ra Bắc của ông Đặng Bá Tiên cùng 5 người đồng đội năm 1961 đã góp phần đặt "nền tảng" đầu tiên cho việc xây dựng con đường mòn huyền thoại: đường Hồ Chí Minh trên biển. Riêng ông Tiên, sau chuyến đi thành công, được học tập rồi tiếp tục trở lại chiến trường miền
Ngày chúng tôi ghé thăm, ngôi nhà trên phố Minh Phụng ồn ào náo nhiệt của TP HCM chỉ có ông đón khách. Bà Minh Xuân còn đi trao nhà từ thiện, mãi giữa buổi mới về. Ông bảo rằng, cả ông bà đều đã vượt mốc 60 năm tuổi Đảng. Hưu trí nhưng vẫn tiếp tục tham gia các hoạt động phong trào. Còn sức, còn có thể làm gì có ích cho xã hội thì cứ làm. Riêng ông, tỉnh Bến Tre đã làm thủ tục đề nghị Nhà nước xét tặng ông danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhưng thực tâm, với ông nhiệm vụ Đảng giao đã được hoàn thành mới là điều quan trọng nhất