Sáng 23/9, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức Hội nghị giao ban Xúc tiến thương mại với Hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tháng 9/2026, chủ đề “Halal Việt Nam: Nhận diện năng lực cung ứng, nhu cầu thị trường và cơ chế phối hợp để thúc đẩy xuất khẩu”, với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hiệp hội và các Thương vụ Việt Nam tại những thị trường Halal trọng điểm.
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người Hồi giáo tại 112 quốc gia, chiếm khoảng 25% dân số toàn cầu. Thị trường Halal không còn giới hạn ở thực phẩm mà đã mở rộng sang mỹ phẩm, du lịch, tài chính, logistics và nhiều dịch vụ khác, trong khi tiêu chuẩn Halal ngày càng được quan tâm bởi yêu cầu về an toàn và minh bạch chuỗi cung ứng.
Đây là dư địa để Việt Nam mở rộng xuất khẩu, nhất là với các nhóm nông sản, thực phẩm có lợi thế. Hội nghị lần này tập trung kết nối nhu cầu từng thị trường với năng lực cung ứng trong nước, trao đổi về tiêu chuẩn, chứng nhận và cơ chế phối hợp. Đây cũng là lần thứ hai Bộ Công Thương đưa Halal vào nội dung giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ.
Cùng với đó, Chính phủ đã quy định 3 nhóm chính sách trọng tâm hỗ trợ phát triển thị trường Halal, tạo thêm cơ sở để Việt Nam từng bước xây dựng ngành Halal và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp.
Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet, hàng Halal của Việt Nam hiện chủ yếu là nông sản, thủy sản thô; sản phẩm chế biến sâu chưa nhiều. Nhiều doanh nghiệp mới sản xuất theo đơn hàng hoặc cho từng thị trường nên chưa tạo được nguồn cung ổn định, quy mô lớn.
Việt Nam có lợi thế về nông, lâm, thủy sản và hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và đánh giá sự phù hợp, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) lưu ý, yêu cầu Halal giữa các thị trường khác nhau. “Chứng nhận của Indonesia chưa chắc khi xuất khẩu sang Malaysia đã được chấp nhận; được tiêu chuẩn Malaysia chưa chắc xuất khẩu sang GCC; được GCC rồi chưa chắc xuất khẩu được sang UAE”, ông Ngọc phân tích.
Do đó, doanh nghiệp cần xác định thị trường mục tiêu ngay từ đầu để lựa chọn tiêu chuẩn, chứng nhận và tổ chức sản xuất phù hợp. Việc kiểm soát cũng phải bắt đầu từ nguyên liệu, sản xuất, bảo quản, vận chuyển đến ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc.
Ông Nguyễn Tuấn Anh, Quyền Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT), Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cho rằng, chứng nhận Halal chỉ là bước đầu. Doanh nghiệp đã áp dụng HACCP hay ISO 22000 cũng không đồng nghĩa mặc nhiên đáp ứng yêu cầu Halal. “Phải làm đúng ngay từ đầu”, ông nhấn mạnh, bởi một vi phạm có thể ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu.
Thực tế của Hợp tác xã Nhà Xanh Toàn Cầu cho thấy, có chứng nhận vẫn chưa đủ để mở rộng thị trường. Bà Vũ Thị Thanh Huyên, Tổng Giám đốc Hợp tác xã cho biết, mỗi thị trường có yêu cầu khác nhau về tiêu chuẩn, văn hóa và tín ngưỡng. Vì vậy, doanh nghiệp phải duy trì chất lượng ổn định và chủ động tìm hiểu từng thị trường.
Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, ba vấn đề cần tập trung là: Tiêu chuẩn, chứng nhận; chuỗi cung ứng, logistics Halal và thông tin thị trường. Doanh nghiệp cần biết rõ nhu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng tiêu thụ trước khi tổ chức sản xuất. Với doanh nghiệp nhỏ, liên kết vào các chuỗi sản phẩm sẵn có có thể là cách tham gia thị trường phù hợp hơn.
Cùng với đó, hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài cần tăng cường cung cấp thông tin, kết nối đối tác và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận từng thị trường. Xúc tiến thương mại cũng nên đi sâu vào nhóm sản phẩm, thị trường cụ thể thay vì dàn trải.
Thị trường Halal đang mở thêm không gian cho hàng Việt, nhưng để biến tiềm năng thành đơn hàng, doanh nghiệp phải nâng năng lực chế biến, kiểm soát chuỗi cung ứng và tổ chức sản xuất theo yêu cầu từng thị trường. Khi các khâu từ nguyên liệu, sản xuất, chứng nhận đến logistics và kết nối thị trường được liên kết, nguồn cung Halal Việt Nam mới có thể phát triển ổn định.