Theo Cục Chăn nuôi và Thú y - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên hiện có khoảng 468 trang trại chăn nuôi quy mô lớn, đóng góp khoảng 30% giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tại khu vực. Sự chuyển dịch sang chăn nuôi trang trại tập trung, quy mô công nghiệp đã góp phần nâng cao năng suất, chủ động nguồn giống, tạo việc làm và thúc đẩy liên kết sản xuất… Tuy nhiên, ngành chăn nuôi cũng đang đối mặt với áp lực ngày càng lớn trong kiểm soát chất thải và bảo vệ môi trường.
Việc thu gom, xử lý phân, nước thải, mùi hôi, bao bì thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế. Bên cạnh đó, lượng chất thải và nhu cầu sử dụng nước gia tăng, đặt ra yêu cầu cao hơn về kiểm soát ô nhiễm và phòng, chống dịch bệnh. Nếu không được thu gom, xử lý đồng bộ, nước thải, chất thải rắn, mùi hôi và khí thải có thể ảnh hưởng đến đất, nguồn nước và đời sống cộng đồng. Đây cũng chính là yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, hạn chế ô nhiễm và hướng tới phát triển bền vững.
Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên giữ vị trí chiến lược của cả nước về phát triển nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng, đóng góp khoảng 30% giá trị sản xuất toàn ngành chăn nuôi. Riêng tỉnh Đắk Lắk, trong giai đoạn 2021-2025 và năm 2026, ngành chăn nuôi của tỉnh đã chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức nhỏ lẻ, truyền thống sang chăn nuôi trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ cao và từng bước hình thành các chuỗi giá trị khép kín.
Đặc biệt, tỉnh Đắk Lắk đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Đến nay, tỉnh đã có 66 dự án chăn nuôi được chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trong đó, có 30 dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động ổn định với tổng diện tích sử dụng đất hơn 1.354 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 4.034 tỷ đồng. Nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ hiện đại đã và đang đi vào vận hành, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, sự kết nối, bổ trợ hoàn hảo về điều kiện sinh thái, đất đai, nguồn lực giữa vùng cao nguyên rộng lớn và vùng đồng bằng, duyên hải trên địa bàn 102 xã, phường của tỉnh đã mở ra lợi thế đặc biệt để quy hoạch các vùng chăn nuôi hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, dịch vụ hậu cần (logistics) và hướng tới xuất khẩu.
Tuy nhiên, quan điểm nhất quán của lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk là không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Phát triển chăn nuôi bắt buộc phải đi đôi với an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao sinh kế bền vững cho người dân.
“Do đó, thông qua diễn đàn, tỉnh Đắk Lắk mong muốn các cơ quan quản lý ở Trung ương, các nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp sẽ cùng nhìn nhận thẳng thắn những điểm nghẽn về công nghệ xử lý chất thải, rác thải chăn nuôi cũng như những vướng mắc về cơ chế, chính sách ở cơ sở. Từ đó hiến kế những giải pháp đột phá giúp tỉnh Đắk Lắk và các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ - Tây Nguyên xây dựng thành công nền chăn nuôi xanh, tuần hoàn và hiện đại”, ông Nguyễn Thiên Văn nhấn mạnh.
Theo TS. Nguyễn Trọng Tuyển, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y, những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang có xu hướng dịch chuyển từ các vùng đồng bằng có mật độ cao sang khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đồng thời, chuyển dần sang trang trại quy mô lớn, tập trung và ứng dụng công nghệ hiện đại. Sự góp mặt của các doanh nghiệp lớn cũng tạo động lực hình thành các chuỗi sản xuất hiện đại.
“Dù vậy, khu vực này vẫn đối mặt với những thách thức đặc thù như hạn hán kéo dài, thiếu nước phục vụ chăn nuôi, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm do chất thải và dịch bệnh lây lan giữa các địa phương. Việc mở rộng quy mô sản xuất vì thế cần gắn với quy hoạch vùng chăn nuôi, bảo đảm an toàn sinh học và kiểm soát sức chịu tải môi trường”, TS. Nguyễn Trọng Tuyển nêu.
Để phát triển chăn nuôi bền vững, TS. Nguyễn Trọng Tuyển cho rằng, cần thực hiện 6 nhóm giải pháp trọng tâm, gồm: quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung gắn với an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn WOAH; phát triển chuỗi khép kín từ thức ăn, trang trại đến chế biến, giết mổ và bảo quản lạnh; khai thác lợi thế từng địa phương đối với bò thịt, bò sữa, lợn và gia cầm; phát triển chăn nuôi tiết kiệm nước, tuần hoàn chất thải; cấp mã định danh cơ sở, số hóa dữ liệu và truy xuất nguồn gốc; đồng thời xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Còn theo ông Nguyễn Thành Yên, Phó trưởng phòng Chính sách - Pháp chế (Cục Môi trường), một trong những vấn đề lớn hiện nay là quản lý nước thải chăn nuôi, đặc biệt là việc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật đối với từng mục đích sử dụng. Tuy nhiên, hiện chưa có quy định cụ thể về lượng nước thải phù hợp cho từng diện tích cây trồng, do đó cần xác định rõ yêu cầu quản lý và trách nhiệm của cơ sở.
“Do đó, Cục Chăn nuôi và Thú y cần nghiên cứu hướng dẫn, quy định kỹ thuật về sử dụng nước thải chăn nuôi trong tưới tiêu, tránh tình trạng tưới tràn lan gây ô nhiễm đất. Việc áp dụng quy định phải căn cứ đúng loại hình, quy mô, đối tượng và mục đích sử dụng nước thải. Không thể mặc định tất cả cơ sở chăn nuôi đều có cùng nghĩa vụ về thủ tục môi trường, mà cần phân định rõ trường hợp xả thải ra môi trường và trường hợp tái sử dụng nước thải sau xử lý”, ông Yên kiến nghị.
Ông Yên cũng đề xuất sáu nhóm giải pháp trọng tâm, gồm: rà soát những điểm chồng chéo, khó thực hiện trong quy định hiện hành; cập nhật quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phù hợp với công nghệ chăn nuôi hiện đại; kiểm soát vị trí, mật độ và hạ tầng chăn nuôi; tăng cường quản lý dòng chất thải, kiểm tra và giám sát sau cấp phép; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực quản lý tại địa phương; khuyến khích đổi mới công nghệ xử lý.