Hassan Zaman - Trưởng nhóm chuyên gia kinh tế của WB đồng thời là tác giả chính của bản báo cáo về tình hình giá lương thực được đưa ra vào ngày 15/4, cho biết một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự tăng giá lương thực lên 36% là do giá dầu tăng mạnh trong bối cảnh bất ổn chính trị ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi vẫn đang tiếp diễn.
Bên cạnh đó, một số nước sản xuất lúa mì như Nga, Canada, Kazakhstan, Australia cũng đã gặp phải các vấn đề khó khăn khiến cho giá lúa mì bắt đầu tăng vào giữa năm qua, gây ảnh hưởng đến thị trường ngô và các nhu yếu phẩm khác. Vì ngô là đầu vào của các ngành chăn nuôi gia súc nên giá thịt cũng được đẩy lên cao hơn. Bên cạnh đó, việc giá dầu tăng cao cũng khiến cho chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học Ethanol từ ngô tăng lên. Ngoài ra, một nguyên nhân khác là do các chính sách hạn chế xuất khẩu đã gây ảnh hưởng đến giá gạo trên thế giới.
Trong làn sóng giá cả lương thực tăng phi mã, có một thông tin khả quan hơn là giá gạo tăng không nhiều. Giá gạo đã tăng 20% kể từ 6 tháng cuối năm 2010 nhưng rất may là Thái Lan và Việt Nam, hai nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, được mùa.
Theo WB, việc giá lương thực leo thang ảnh hưởng to lớn đến người nghèo ở các nước đang phát triển - từ những người có mức sống dưới 1,25 USD/ngày (tương đương 25.000 đồng Việt Nam). Số liệu của WB cho thấy chi tiêu cho thực phẩm chiếm tới 70% tổng thu nhập của các gia đình nghèo sống ở châu Phi hoặc châu Á. Chỉ riêng con số đó đã đủ giúp chúng ta hình dung được những gia đình này sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi giá thực phẩm gia tăng.
Nhìn ở một khía cạnh khác, việc giá lương thực tăng là điều đáng mừng với nông dân ở một số nước vì họ có thể bán được nông sản với giá cao hơn. Nhưng với những người có thu nhập dưới 1,25 USD/ngày, thường là những người không có đất canh tác mà phần đông là đi làm thuê, thì sự tăng giá trên lại không đem lợi cho họ.
Theo Chủ tịch WB, Robert Zoellick, nếu giá thực phẩm toàn cầu tăng thêm 10%, sẽ có thêm 10 triệu người bị đẩy vào tình trạng nghèo khổ cùng cực, và nếu giá thực phẩm tăng thêm 30%, sẽ có thêm 34 triệu người nghèo khổ nữa. Con số đó không kể 40 triệu người đã bị đẩy vào tình trạng nghèo khổ kể từ tháng 6 năm ngoái vì giá thực phẩm tăng vọt. WB ước lượng có khoảng 1.2 tỉ người đang sống dưới mức nghèo khổ.
Trong bối cảnh nhiên liệu sinh học đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu hiện nay, WB còn cho rằng giá lương thực tăng, nhất là ngô do nhu cầu sử dụng để sản xuất Ethanol, sẽ khiến "mục tiêu nhiên liệu sinh học" của một số quốc gia bị ảnh hưởng, thậm chí phải linh động thay đổi để phù hợp với bối cảnh. Điều này sẽ lại có tác động đẩy giá nhiên liệu hóa thạch như dầu hỏa lên cao hơn và cái vòng luẩn quẩn bắt đầu xuất hiện.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hiện rất quan ngại về tình trạng lạm phát ngày càng gia tăng của các nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ tại châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ…, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc hồi phục và ổn định nền kinh tế toàn cầu sau cuộc suy thoái kinh tế vừa qua. Về phần mình, ông Robert Zoellick cũng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bùng nổ khủng hoảng đang đến rất gần.
Ông Dominique Strauss Kahn, Giám đốc điều hành IMF, cho biết lạm phát giá lương thực và nhiên liệu có thể dẫn đến bong bóng giá cả nguy hiểm. "Đây là vấn đề quan tâm hàng đầu tại các nước mới nổi. Mặc dù việc tăng giá cả lương thực và nhiên liệu có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế nhưng nguy cơ lạm phát bắt nguồn từ việc các mức giá này gần như đã tăng đến mức kịch trần đã trở thành vấn đề đáng quan ngại" - ông Kahn nhận định.
Giáo sư Fariborz Moshirian, chuyên viên tài chính quốc tế, cho biết, tình trạng giá cả bất ổn sẽ lan rộng khắp châu Á. Theo ông, hiện nay, Ấn Độ đang phải đối mặt với mức lạm phát cao (8%), trong khi đó tại Trung Quốc, lạm phát dường như đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát với mức 6% thay vì mức dự đoán 4%. Đồng thời, ở một số nước khác trong khu vực như Indonesia cũng đã xuất hiện một vài dấu hiệu lạm phát. Tuy nhiên, ông Moshirian cho rằng lạm phát giá cả lương thực chưa thể gây ra một cuộc khủng hoảng mới vì nhu cầu về các mặt hàng này vẫn đang gia tăng mạnh mẽ trong tầng lớp trung lưu ở châu Á. Ngân hàng Trung ương tại Trung Quốc và Ấn Độ đã noi gương châu Âu trong việc tăng lãi suất cơ bản nhằm ngăn chặn lạm phát.
Vào hôm 17/4 vừa qua, chính quyền Trung Quốc một lần nữa yêu cầu các ngân hàng tăng lãi suất sau khi nhận báo cáo về tỉ lệ lạm phát đã lên đến mức 5,4% trong tuần qua. Giáo sư Moshirian cho biết lạm phát sẽ vẫn là vấn đề nan giải nếu như các nước châu Á chưa đưa ra được biện pháp hiệu quả chung về chính sách tiền tệ, tương tự như việc Ngân hàng Trung ương châu Âu thiết lập cơ chế bình ổn kinh tế đối với các nước thành viên trong khu vực này. "Tại châu Á, mỗi nước có một chính sách tiền tệ riêng với sự can thiệp khác nhau vào giá trị đồng tiền mỗi nước nên họ cũng phải đối mặt với tình hình lạm phát khác nhau" - Giáo sư Moshirian nhận xét.
Việc thiếu một chính sách tiền tệ chung cũng chính là nguyên nhân gia tăng thêm áp lực về vấn đề lạm phát và lưu thông vốn vào các nền kinh tế châu Á hiện nay