1. Đất nước thống nhất, tôi trở về miền Bắc thân yêu, tạm biệt mảnh đất đã che chở chúng tôi suốt gần chục năm trời trong làn mưa bom bão đạn của giặc Mỹ. Sau hơn 20 năm trở lại thăm những đồng chí đồng đội và những người bạn thân thiết chia ngọt sẻ bùi trong máu lửa.
Dưới tán lá xanh mướt che bớt cái nắng hè rát bỏng, con ngõ nhỏ đưa chúng tôi vào căn nhà đơn sơ nằm trên đường Phan Bội Châu, phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Tôi đứng ngắm hồi lâu, dõi vào bên trong là một cụ già tóc bạc trắng đang ngồi thư thái uống trà. Bạn tôi đó, ông Vương Hưng Mâu. Chúng tôi đã cùng công tác và chiến đấu với nhau trong những ngày mưa bom bão đạn ở mảnh đất này, giờ đều đã ở tuổi ngoài 70 cả rồi, gặp lại nhau lòng bỗng thấy rưng rưng… Chúng tôi cùng vợ chồng ông Mâu bồi hồi xúc động nhớ lại những kỷ niệm xưa của những ngày 30 năm về trước, khi còn ở rừng Trường Sơn.
Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện về gia đình và những người thân yêu. Quả thực, tôi đã quá bất ngờ, xúc động và nghẹn ngào thương bạn khi nghe ông kể về gia đình mình. Quả thực, đó là sự hy sinh lớn lao quên mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
2. Ông Vương Hưng Mâu sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, giàu lòng yêu nước. Cha ông là Vương Hưng Phán (còn gọi là Vương Hoán), mẹ ông là Trần Thị Đĩnh. Trên mảnh đất Phú Vang anh hùng có xã Phú Đa, một xã được coi là cái nôi của phong trào cách mạng, đã sinh ra nhiều người con anh hùng kiên trung bất khuất. Ông Mâu đã được cha mẹ nuôi dưỡng trong cái nôi cách mạng ấy.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cha ông (ông Phán) đã đưa cả gia đình tham gia kháng chiến, từ đó nhà ông trở thành trụ sở của Công an tỉnh, là nơi hội họp làm việc của Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế, trở thành xưởng dệt cung cấp vải cho kháng chiến. Tích cực tham gia cách mạng, tới khi Hiệp định Geneve năm 1954 được ký kết thì cả gia đình ông Phán có tới 15 đảng viên, không ai tập kết ra Bắc mà đều ở lại hoạt động bí mật trong lòng địch. Và, căn hầm bí mật đầu tiên của xã để che giấu cán bộ đã được đào ngay trong nhà bà Vương Thị Lành (con gái ông Phán). Từ đó, cơ sở Đảng tiếp tục "đâm chồi nảy lộc" ở đất Phú Đa và huyện Phú Vang, nơi có phong trào đồng khởi sớm nhất trong tỉnh. Kể đến đây, bỗng giọng ông Mâu như chùng xuống, nghẹn lại...
Rồi ông kể tiếp, trước những ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người dân Phú Vang đã không tiếc máu xương, quyết giữ gìn mảnh đất quê hương. Gia đình ông Mâu đã chịu quá nhiều mất mát hy sinh. Bố, mẹ và 5 anh chị em (4 trai, 1 gái) và đứa con gái duy nhất của ông vừa tròn 20 tuổi… đều đã hy sinh. Sau những năm dài (hơn 20 năm) trầm mình trong cuộc kháng chiến, ông trở về quê hương thì những người thân yêu không còn nữa. Ông chỉ còn lại một mình cùng người vợ hiền mòn mỏi đợi chờ dưới ráng chiều chạng vạng… Một người đàn ông dù có dạn dày, cứng cỏi gan dạ bao nhiêu, thì trước những mất mát đau thương chừng ấy thật khó kìm lòng…
Tôi nhìn người đồng chí già đau đớn mà lòng quặn thắt. Rồi ông Mâu kể tiếp, trong gia đình ba thế hệ của ông có 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, đó là mẹ, vợ, 2 em gái, em dâu và cháu ông… Có thể đã có những cây bút, trang viết tri ân về 24 liệt sĩ và 6 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng trong gia tộc Vương Hưng. Còn trong khuôn khổ bài báo nhỏ này, chúng tôi chỉ xin kể một phần nhỏ về cuộc đời của người con ưu tú may mắn còn lại của gia đình này, một cán bộ Công an với một tấm lòng sáng trong, trân trọng.
3. Khi những người thân yêu trong gia đình tham gia phong trào cách mạng từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cũng là lúc ông Vương Hưng Mâu gia nhập đoàn quân
Ông đã từng trực tiếp bảo vệ cơ quan liên lạc của Đảng ở miền
Sau khi Hiệp định Geneve về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, ông được bố trí đưa 200 con, em gia đình thương binh, liệt sĩ ra Bắc tập kết. Sau Tết Nguyên đán Ất Mùi (1955), ông vào học khóa đào tạo ở Trường C500 (Học viện ANND), tiếp đó là học chuyên ngành quản giáo. Từ đó ông gắn bó với công tác trại giam cho đến ngày nghỉ hưu.
Ông Mâu kể rằng, từ ngày xa gia đình đi chiến đấu cho đến khi ra Bắc tập kết và công tác ở miền Bắc, ông không biết tin gì về gia đình thân yêu của mình và cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt của những người thân ở quê nhà. Bao nhiêu năm trời đằng đẵng không có tin tức gì về vợ và con gái, ngày Bắc đêm
Từ đầu năm 1960, khi đang làm Giám thị Trại giam số 4, nghe tin một số đồng chí được vào Nam chiến đấu, ông Mâu đã mong ước và viết đơn tình nguyện xin đi nhưng không được. Vì miền Bắc đang cần những cán bộ Công an như ông. Mãi đến năm 1968, trước yêu cầu của sự nghiệp giải phóng miền
4. Vào Nam, với những kinh nghiệm sẵn có, ông được giao ngay làm Giám thị trại I, trực thuộc An ninh khu Trị Thiên - Huế đóng ở Tây Nam Thừa Thiên. Về đây, ông đau đáu tìm hiểu về quê nhà, gia đình, vợ con. Qua tin tức của các đồng chí, biết ông Mâu còn sống và đã trở về, thật quá đỗi vui mừng, từ căn cứ của Huyện ủy Phong Điền, người vợ yêu thương của ông (bà Thể) đã vượt đường rừng suốt 4 ngày 4 đêm liền để đến thăm chồng ở Trại I.
Cuộc trùng phùng đầy cảm động sau 23 năm trời xa cách khó có từ ngữ nào tả nổi, trái tim người vợ, ánh mắt người chồng như đong đầy cảm xúc… Bà Thể nghẹn ngào kể cho chồng nghe về tất cả. Sau khi ông gia nhập đội quân
Năm 1957, trong một lần về gây dựng cơ sở ở đồng bằng, bà đã bị địch bắt giam ở Nhà lao Thừa Phủ, chịu nhiều đòn thù tra khảo nhưng bà vẫn giữ tấm lòng son sắt với Đảng. Mãi sau, bà được trả tự do và chuyển về Phong Điền hoạt động. Cháu Sen lớn lên theo truyền thống gia đình, tiếp tục vào du kích, làm y tá trong đội du kích và đã hy sinh trên đường đi cứu thương khi vừa tròn 20 tuổi.
Gặp lại người vợ thân thương sau 23 năm trời xa cách, cũng là lúc ông biết tin những người thân yêu của mình đã hy sinh vì cách mạng, lòng buồn trĩu nặng. Giờ đây, vợ chồng ông cầu mong trời đất sinh được một đứa con là niềm an ủi cuối đời. Có lẽ cây rừng và sỏi đá nơi trại giam ông đang làm giám thị cũng phải mủi lòng. Nhưng nghiệt ngã quá, tuổi già đã kéo về sầm sập cộng với những nỗi đau ập đến quá nhiều nên ông bà không còn hy vọng có con được nữa. Cuộc sống cứ thế bình lặng trôi đi, họ vẫn sống với nhau bình dị, ấm áp tình người. Trở về mảnh đất nơi ông đã sinh ra, làm Giám thị trại giam, ông Mâu đã thu phục lòng người. Nhiều phạm nhân đã coi ông như người cha. Khi Thừa Thiên - Huế được giải phóng, số phạm nhân bị giam giữ cải tạo ở rừng hầu hết được trở về gia đình. Ông lại về tiếp quản và làm giám thị trại giam mới (Nhà lao Thừa Phủ) cho tới ngày nghỉ hưu (năm 1981). Bà Thể, vợ ông cũng công tác ở đây. Hai cán bộ Công an bên nhau, lấy công việc làm vui để tiếp tục cống hiến.
Căn nhà nhỏ của ông Mâu, bà Thể ở thành phố Huế vừa đủ chỗ ở cho hai vợ chồng và tiếp bạn bè, bà con xa gần. Người ta nói, khách đến thăm ông, thấy phạm nhân cũ nhiều lắm. Đó là những người mang nhiều ân nghĩa với ông, ông đã cứu giúp họ trở lại với đời, bỏ lại lỗi lầm sau cánh cửa trại giam. Cũng trong khu vườn này, còn có căn nhà nhỏ của người cháu gọi ông bằng chú ruột. Anh Vương Hưng Mạch, công tác tại Phòng Hậu cần Công an tỉnh, là người bên cạnh vợ chồng ông lúc tối lửa tắt đèn, là nguồn động viên an ủi ông bà khi trong gia đình còn có đứa cháu yêu quý theo nghiệp của ông.
Ông kể rằng, cái nhà này và đồ đạc trong nhà ông mua từ số tiền "miền Bắc" ông chắt chiu, dành dụm nhét dưới đáy ba lô khi lên đường vào Nam năm 1968. Nhìn chân dung của cha mẹ ông trên bàn thờ, nhìn những tấm bằng Tổ quốc ghi công, Huân chương đầy ắp trong gian phòng chật chội. Trong tôi bỗng có cảm giác rằng, phần thưởng với ông bà Mâu bây giờ là sự thanh thản, niềm vinh dự tự hào về truyền thống gia đình, về sự hy sinh lớn lao cho đất nước. Ở tuổi gần đất xa trời, ông bà Mâu vẫn ung dung tự tại, chăm sóc nhau ân cần. Ông bà vui cùng bạn bè, bà con xóm phố. Số tiền tiết kiệm ông dành dụm để lo cho phần mộ của cha mẹ, anh em, cháu con, các bậc anh hùng của đất nước…
Khi chúng tôi ngồi viết những dòng này thì lại nhận được tin, ông Mâu vừa giã từ trần thế cách đây vừa 4 tháng. Ông về với tổ tiên, với những người con ưu tú của cách mạng trong gia đình Vương Hưng. Nhưng những hy sinh thầm lặng của ông vẫn còn đọng mãi trong tâm trí chúng tôi - những đồng đội của ông.