Tài năng có đợi tuổi hay không? Câu hỏi này từng được đặt ra từ lâu và đã có những cách trả lời khác nhau. Theo kết quả nghiên cứu trong một báo cáo mới được công bố của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ (NBER), thường là ở độ tuổi cuối tam thập, từ 35 tới 39, các nhà khoa học đã đạt được mức độ cao nhất trong việc tìm kiếm chân lý... Chỉ riêng trong sáng tạo văn học nghệ thuật thì quy luật này không phải là bất biến...
James Murphy (sinh năm 1970), nguyên là giọng ca chính của ban nhạc LCD Soundsystem, đã phạm phải cái mà anh gọi là sai lầm lớn nhất đời mình, ở tuổi gần 20: khi đó, anh đã từ chối đề nghị trở thành một trong những người viết kịch bản cho bộ phim hài đang chuẩn bị được bấm máy.
Đó chính là bộ phim truyền hình nhiều tập Seinfeld cực kỳ ăn khách trên màn ảnh nhỏ không chỉ ở Mỹ. Loạt phim mang tính hài hước tình huống này từng được trình chiếu trên kênh truyền hình NBC từ tháng 7/1989 tới giữa tháng 5/1998. Năm 2002, tạp chí TV Guide đã xếp Seinfeld vào vị trí đầu tiên trong danh sách 50 chương trình truyền hình ăn khách nhất mọi thời đại. Năm 2008, tạp chí Entertainment Weekly đã xếp Seinfeld vào vị trí thứ ba trong danh sách 100 chương trình truyền hình ăn khách nhất mọi thời đại...
Bỏ lỡ cơ hội tham gia vào một dự án lớn và thành công như thế đã là vết dằm ăn sâu vào trái tim của Murphy. Sau sự việc này, suốt một thời gian dài, Murphy đã không thể tìm được một công việc gì khả dĩ, đành phải làm nhân viên đứng quầy trong quán rượu, rồi làm DJ, cho tới khi anh cho ra mắt được album đầu tiên của ban nhạc LCD Soundsystem ở độ tuổi 35 đã không còn mấy sức thanh xuân. Cũng may mà dự án LCD Soundsystem với ba album liên tiếp được phát hành từ năm 2005 tới 2010 cũng đã đạt được những thành công vang dội. Tháng 2/2011, LCD Soundsystem đã tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của mình sau khi album cuối cùng của nó This is Happening, phát hành năm 2010, đã được xếp ở vị trí thứ 10 của Billboard 200...
Có lẽ Murphy đã là người lớn tuổi hơn hầu hết các đồng nghiệp của mình trong lĩnh vực rock - dance. Tuy nhiên, theo một báo cáo mới được công bố của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER), con đường của anh đi tới thành công là tương đối điển hình đối với những người đã đạt được các thành công đáng kể trong sự nghiệp chuyên môn.
Các tác giả của báo cáo này đã khảo sát các đỉnh điểm trong hoạt động sáng tạo của các nhà sáng chế và những người đoạt giải Nobel. Và họ đã đi đến kết luận rằng, độ tuổi thuận lợi nhất để biến thành hiện thực những tiềm năng sáng tạo là vào độ tuổi từ 35 tới 39.
Trong thế kỷ XX, đỉnh cao sáng tạo của những người tài năng đã ở một độ tuổi cao hơn - một phần lý do của hiện tượng này là bởi các nhà khoa học hiện đại phải mất khá nhiều thời gian để nghiên cứu những số lượng lớn hơn các thông tin so với những bậc tiền bối.
Hơn nữa, những người đạt được các thành tựu xuất sắc trong các lĩnh vực trừu tượng của sáng tạo, chẳng hạn như lĩnh vực nghệ thuật hay bộ môn vật lý, thường đạt được đỉnh cao của mình ở độ tuổi sớm hơn so với những người nhận giải Nobel cho những thành tựu đạt được trong các lĩnh vực đòi hỏi phải có một bề dày tri thức sâu rộng hơn, chẳng hạn như bộ môn lịch sử và y tế. Một nghiên cứu vào năm 1977 cho thấy, những người nhận giải Nobel thường là ở độ tuổi trung bình 36 khi họ đang thực hiện công trình mà về sau đã đưa họ lên tầm cao thế giới. Cụ thể hơn, độ tuổi này ở các nhà hóa học lại là 39, còn ở những người nghiên cứu về y học là 41...
Vậy tại sao đỉnh điểm của hoạt động sáng tạo lại diễn ra ở trong độ tuổi từ 35 tới 39? Yếu tố hiển nhiên nhất ở đây tất nhiên là quá trình học tập: các nhà khoa học tương lai bắt đầu đi học từ 5 tuổi tới năm 18 tuổi, sau đó cho tới tuổi 30 mới tiếp tục nhận được các học vị của mình. Tiếp theo, họ phải dành một số năm nữa để làm chủ lĩnh vực nghiên cứu của mình rồi mới tới lúc có thể thăng hoa, đột nhiên phát hiện ra nguyên lý bất định. Trong khi đó, những khám phá khoa học thường rất hiếm khi xảy ra ở độ tuổi cao hơn, bởi vì càng thêm tuổi, chúng ta càng ít đầu tư hơn vào việc học hỏi thêm và vì thế, đánh mất dần các kỹ năng. Và các kiến thức đã có cũng ngày một trở nên lỗi thời hơn...
Tuy nhiên, lĩnh vực sáng tạo nhân văn lại cho chúng ta biết rằng, thiên tài không mất dần đi theo tuổi tác. Hơn 40% những bài thơ hay nhất của Robert Frost (1874 - 1963) và William Carlos Williams (1883 - 1963) đã được viết ra khi họ đã ở độ tuổi ngũ thập tri thiên mệnh. Robert Frost từng bốn lần đoạt giải Pulitzer (vào các năm 1924, 1931, 1937 và 1943). Tài năng thơ của ông đã đạt được đỉnh cao ở tuổi tứ thập trong tập New Hampshire và đã mang lại cho ông giải Pulitzer đầu tiên vào năm 1924. Tuyển tập thơ Collected Poems xuất bản năm 1930 cũng đã được tặng giải Pulitzer thứ hai. Hai tập A Further Range (1936) và A Witness Tree (1942) mang lại thêm hai giải Pulitzer nữa. Tập thơ cuối cùng In the Clearing được xuất bản khi ông đã gần trăm tuổi (1962) cũng bao gồm những bài thơ được đánh giá là hay không kém những tập đầu tiên...
William Carlos Williams, nguyên là một bác sĩ và hành nghề chữa bệnh suốt đời, lại được đánh giá là nhà thơ làm thay đổi diện mạo thi ca Mỹ hiện đại. Trong số những tác phẩm thơ đánh giá cao nhất trong sự nghiệp văn học của ông có hai cuốn được xuất bản khi ông đã quá tuổi “tri thiên mệnh”: Collected Later Poems (1950) và Paterson (1946-1958).... Năm 1963, ở tuổi 80, ông đã được tặng huy chương vàng của Viện nghệ thuật Quốc gia và giải Pulitzer...
Nhìn ra hội họa, có thể thấy danh họa Pháp Paul Cezanne (1839 - 1906) đã hoàn thành những họa phẩm tuyệt tác của mình chỉ ở giai đoạn trước khi qua đời không lâu... Danh họa vĩ đại thời Phục Hưng Michenlangelo (1475 - 1564) bắt tay vào vẽ bức tranh tường trong nhà thờ Sistine ở tuổi 70. Tới năm 87 tuổi, ông mới hoàn thành bức tranh Đức Mẹ sầu bi tuyệt tác với hình ảnh chúa Jesus nằm tròng Đức Mẹ... Còn nhà soạn nhạc người Italia, Guiseppe Verdi (1813 - 1901), đã hoàn thành vở opera lừng danh Otello năm 75 tuổi. Ở tuổi ngoại 80, ông mới hoàn thành một trong những tác phẩm âm nhạc quan trọng nhất của đời mình, vở opera hài Falstaff...
Những thí dụ như thế còn rất nhiều...
Báo cáo của NBER cho biết, các nhà khoa học lý thuyết (cung cấp những mô hình tư duy mới), thường đạt được thành tựu lớn nhất của mình sớm hơn so với các nhà khoa học thực nghiệm (cung cấp các câu trả lời cho các câu hỏi trên cơ sở những kiến thức đã có), khoảng 4,6 năm.
Điều này xảy ra vì hai lý do. Đầu tiên, các nhà khoa học lý thuyết không phải lúc nào cũng chờ đợi cho đến khi các thí nghiệm được kết thúc và những kết quả sẽ được công bố. Thứ hai - và điều này rất đáng được chú ý đến -, việc họ đang là những con người tương đối mới trong lĩnh vực mà họ nghiên cứu lại giúp cho họ nhận ra rõ ràng những khe hở và các chuyển động mà các nhân vật cựu trào đã không còn để ý tới được nữa.
Đây là cách giải thích của các tác giả của nghiên cứu trên:
“Những công trình tổng quát quan trọng nhất thường đưa ra phương thức hoàn toàn mới thoát ra khỏi những mô hình hiện hữu. Và khả năng nhận ra và đánh giá được giá trị của một phương thức thoát ra hoàn toàn như thế chỉ thể hiện rõ rệt ở ngay sau khi vừa làm quen những mô hình đó, tức là trước khi nó được thấu hiểu chi tiết”.
Các tác giả này trích dẫn quan điểm của nhà phân tâm học người Áo Sigmund Freud (1856-1939), người đã viết trong cuốn sách Văn minh và những người bất mãn với nó: “Những khái niệm mà tôi sẽ tổng hợp ở đây, lần đầu tiên được tôi đưa ra với mục đích hoàn toàn mang tính thực nghiệm, nhưng rồi theo dòng thời gian, chúng đã chiếm lĩnh tâm trí tôi tới mức tôi không còn có thể nào suy nghĩ theo những cách khác được”...
Như vậy, sự thiên tài chỉ xuất hiện chính ở thời điểm mà một trí tuệ giàu kinh nghiệm tung ra cái nhìn mới mẻ vào vấn đề đang được nghiên cứu. Và như vậy cũng có thể nói rằng, độ tuổi không phải là khái niệm tuyệt đối. Quan trọng nhất là ở bất cứ độ tuổi nào, người sáng tạo cũng phải gìn giữ cho mình khả năng tạo ra góc nhìn mới vào những vấn đề tưởng như đã quá thân thuộc đến cũ mòn...