Đàn bầu Việt Nam có nguy cơ bị “xâm hại chủ quyền”

“Tiếng đàn bầu của ta, cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha, ngân nga em vẫn hát, tích tịch tình tang, tích tịch tình tang...”.

Tự bao giờ, những thanh âm trầm bổng của tiếng đàn bầu đã hòa lẫn theo tiếng mẹ ru ầu ơ. Từ thuở nằm nôi thì với đa phần người Việt đều quen thuộc với những thanh âm trong trẻo và mát lành ấy. Và cứ thế, theo thời gian, tiếng đàn bầu đã đi vào đời sống văn hóa, gắn liền với tâm tư tình cảm của người dân Việt bao thế hệ.

Thế nhưng hiện nay đàn bầu của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị “xâm hại chủ quyền”. Đó cũng chính là một trong những nội dung quan trọng được đưa ra thảo luận tại hội thảo khoa học “Đàn bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam” do Viện Âm nhạc, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam tổ chức vừa qua.

Trong đề dẫn hội thảo, PGS.TS Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc, gợi mở vấn đề: “Trong số các đàn một dây trên thế giới, đàn bầu Việt Nam được đánh giá rất đặc sắc, độc đáo bởi đây là đàn duy nhất phát ra âm thanh là âm bồi; chỉ có một dây, không có phím bấm nhưng có thể chơi được tất cả các cao độ; có khả năng trình diễn tất cả các kỹ thuật rung, nhấn, đặc biệt là các dạng luyến láy, tô điểm âm khác nhau nên rất phù hợp với kiểu giai điệu âm nhạc có nhiều âm hoa mỹ, luyến láy của Việt Nam”.

Tiết học đàn bầu của sinh viên Nhạc viện TP Hồ Chí Minh.
Tiết học đàn bầu của sinh viên Nhạc viện TP Hồ Chí Minh.

Trao đổi với PV Báo CAND, NSƯT Toàn Thắng chia sẻ, đàn bầu của Việt Nam là điều không thể phủ nhận được, trong cuốn “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn đã dẫn ra một đoạn trong “Sử giao tập” của Trần Cương người Trung Quốc, theo đó nhiều học giả cho rằng những nhạc cụ dây như tì bà, tranh, bầu xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng thế kỷ XIII.

Ngoài ra, trong cuốn sách “Cây đàn bầu, những âm thanh kỳ diệu”, tác giả Phạm Phúc Minh cho rằng đàn bầu ra đời ở khoảng thế kỷ IX – X. Nhiều học giả dẫn theo Đại Nam thực lục còn chỉ rõ cụ thể là đàn bầu được chế tạo vào năm 1770.

Miền Bắc trước có quả bầu nậm, ngày xưa các cụ hay sử dụng vỏ quả bầu nậm làm đàn nên có tên gọi là đàn bầu, trên vùng Hòa Bình có 1 dân tộc có cây đàn sáng lợn. Đàn bầu còn có tên gọi là “độc huyền cầm”, là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Dựa theo cấu tạo của hộp cộng hưởng, đàn bầu chia hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.

Đàn bầu có mặt phổ biến ở các dàn nhạc cổ truyền dân tộc Việt Nam. Đàn bầu không chỉ được người Việt Nam ưa thích mà còn được nhiều khán-thính giả trên thế giới hâm mộ. Có mặt trong hầu hết các loại hình âm nhạc dân gian Việt Nam như: hát xẩm, tuồng, chèo, cải lương, hát trống quân…

Thế nhưng, gần đây đã xuất hiện một số hoạt động của nước ngoài có dấu hiệu xâm hại "chủ quyền" đàn bầu của Việt Nam. Tại hội thảo, các GS.TS đã đưa ra nhiều dẫn chứng như việc học giả Tôn Tiến người Trung Quốc nghiên cứu sâu về đàn bầu với luận văn cao học năm 2009 về “Đàn bầu với việc giảng dạy tại Trường Đại học Quảng Tây, Trung Quốc” và bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2015 về “Nghệ thuật đàn bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam”. Thậm chí trong những năm gần đây, đàn bầu đã xuất hiện trong những festival nhạc dân tộc ở Trung Quốc. Hiện ở Học viện Quảng Tây, Trung Quốc có hẳn một khoa giảng dạy về đàn bầu.

NSƯT Toàn Thắng cho biết, nên đệ trình UNESCO để được công nhận đàn bầu là di sản phi vật thể của Việt Nam. Bên cạnh đó, nước ta cũng nên phổ cập cho toàn dân về đàn bầu thông qua các chương trình biểu diễn nghệ thuật quần chúng, đưa vào trường học mở các lớp dạy về đàn bầu để bảo tồn di sản này. Đàn bầu cũng như tất cả các thể loại nhạc cụ khác cũng tồn tại một số nhược điểm.

Vì vậy chúng ta phải tự mình tìm cách khắc phục, mở rộng kỹ thuật để cho đàn bầu Việt Nam hoàn thiện hơn. Còn một khó khăn nữa đối với những nghệ sĩ cũng như sinh viên học chuyên ngành đàn bầu ở khu vực phía Nam đó chính là việc thi đầu vào đã rất ít sinh viên, cả Nhạc viện TP Hồ Chí Minh chưa có đến 10 sinh viên theo học.

Tuy nhiên đầu ra lại rất lãng phí. Lãng phí ở đây chính là việc các em ra trường không tìm được một nơi chuyên nghiệp để thể hiện và sống với nghề. Đa phần các em đều phải biểu diễn tại các nhà hàng. Vì vậy việc quan tâm hơn đến công tác giáo dục về chuyên ngành đàn bầu cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp duy trì và bảo vệ âm nhạc dân tộc trong thời kỳ hội nhập.  

Em Vũ Văn Cảnh, sinh viên năm 4 khoa âm nhạc dân tộc, Nhạc viện TP Hồ Chí Minh chia sẻ, không những em mà đa phần các sinh viên khác trong nhạc viện những ngày qua đều cảm thấy rất lo lắng cho đàn bầu của Việt Nam. Em mong nước ta, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, những người làm công tác văn hóa sẽ nhanh chóng giúp đàn bầu Việt Nam được UNESCO công nhận. Về bản thân, em suy nghĩ sẽ cố gắng học tốt và sau này sẽ đi tới các trường học để tuyên truyền về lịch sử đàn bầu Việt Nam.

“Tiếng đàn bầu Việt Nam, ngân tiếng vàng trong sáng, ôi cung thanh cung trầm, ru lòng người sâu thẳm, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Việt Nam! Hồ Chí Minh!”. Những câu thơ của nhà thơ Lữ Giang đã nói hộ lòng người Việt dành cho đàn bầu. Đàn bầu ngày xưa, ngày nay và mai sau vẫn mãi mãi là đàn bầu của người Việt vì nó đã là một phần chính kết nối tâm hồn người Việt tự bao đời.

Hải Âu

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.