Tìm nguyên nhân khiến DN giải thể, ngừng hoạt động
Kết quả rà soát số lượng DN năm 2012 của Tổng cục Thống kê cho thấy, số lượng DN thành lập mới tháng 6-2012 ước đạt 5.800 DN với số vốn đăng ký đạt 28.289 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng, số lượng DN thành lập mới đạt 36.195 DN (giảm 12,5%) với số vốn đăng ký đạt 232.577 tỷ đồng (giảm 3,5%) so với cùng kỳ năm trước. Tổng số DN giải thể, ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh trong tháng 6 là 4.110 DN, trong đó số lượng DN đã giải thể là 610 DN, số lượng DN ngừng hoạt động là 3.500. Tính chung 6 tháng, số DN giải thể, ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh là 26.324 DN, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số lượng DN đã giải thể là 4.105, tăng 35,4%; số DN ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh là 22.219 DN, tăng 1,3%.
Số lượng DN đăng ký mới trong 6 tháng đầu năm giảm (12,5%) và số DN giải thể, ngừng hoạt động tăng (5,4%), trong đó DN giải thể tăng đến 35,4% đã phản ánh thực trạng khó khăn của DN. Tổng cục Thống kê cũng đã tiến hành điều tra 9.331 DN về thực trạng khó khăn vào thời điểm 1/4/2012, có 6 yếu tố cản trở lớn nhất đối với môi trường kinh doanh của DN là lãi suất vay vốn quá cao, lạm phát cao và biến động thất thường, khả năng tiếp cận vốn khó khăn, chi phí vận tải cao, điện cung cấp không ổn định, chính sách điều hành kinh tế không ổn định.
Hiện có 31,7% DN dự kiến thu hẹp sản xuất kinh doanh với nguyên nhân chủ yếu do thị trường trong nước giảm và khó tiếp cận vốn vay. Hai lý do này càng đẩy các DN vừa và nhỏ vào thế khó khăn hơn. Đáng chú ý là trong số 57,8% số DN đang vay vốn cho sản xuất kinh doanh thì có tới 33,5% phải vay với lãi suất bình quân trên 19%.
Trong ba loại hình DN thì DN ngoài Nhà nước có tỷ lệ phá sản, giải thể cao nhất (9,1%), tiếp đến là khu vực DN Nhà nước (2,7%) và thấp nhất là khu vực DN FDI (2,4%). Kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy vùng đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, giải thể cao nhất với 13,6% tổng số doanh nghiệp điều tra; tiếp đến là khu vực Tây Nguyên (9,9%); Đông Nam Bộ (8,6%); Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (8,2%); Trung du và miền núi phía Bắc (7,2%) và thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng (6%).
Tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu từ khối DN FDI
Theo bà Lê Thị Minh Thủy, Vụ trưởng Vụ Thương mại-Xuất nhập khẩu, Tổng cục Thống kê, trong tháng 6 đầu năm, nhập siêu thấp (xuất khẩu tăng nhanh, nhập khẩu giảm) trong vòng 10 năm trở lại đây là tín hiệu đáng mừng nhưng vẫn còn một số băn khoăn.
Bởi thị trường cung cấp hàng hóa số 1 cho Việt
Trong tổng số kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng -2012 ước đạt 53,1 tỷ đồng, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước thì khu vực kinh tế trong nước đạt 20,5 tỷ USD, tăng 4%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 32,6 tỷ, tăng 37,3% do khu vực này có lợi thế về đầu ra từ phía các các công ty mẹ ở nước ngoài lo. Bà Thủy cho rằng, thị trường Việt
Đã xuất hiện những dấu hiệu khả quan
Trước những lo ngại về giảm phát, đại diện Vụ Giá, Tổng cục Thống kê đã phân tích chỉ số giá tháng 6/2012 giảm 0,26% là tín hiệu tốt chứ không nên bi quan như một số dư luận gần đây. Việt
Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Đỗ Thức, mặc dù tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt ở mức thấp do gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiêu thị sản phẩm nhưng từ quý II nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt đối với khu vực công nghiệp và xây dựng. Giá trị tăng thêm của khu vực này quý I chỉ tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước, sang quý II đã tăng lên 4,52%, trong đó công nghiệp tăng từ 4,03% lên 5,4%.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt tốc độ thấp 4,38% so với cùng kỳ 2011, nhưng lạm phát đã tăng chậm lại và tốc độ tăng giá tiêu dùng cũng chậm lại, xuất khẩu tăng, nhập siêu thấp. Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt