Trong không gian âm nhạc đượm màu tâm linh, mùi nhang khói, hòa với tiếng kèn, tiếng trống, tiếng phách là giọng hát luyến láy khi bổng lúc trầm dìu dặt tha thiết. Người đàn bà đó hát: “Chốn cung mây lồng ánh nguyệt/ Cảnh bầu trời gió quyện hương bay/ Cửu trùng tọa chín tầng mây/ Thiên Tiên Đệ Nhất ngự rày trung cung/ Gió đông phong hây hây xạ nức/ Bộ tiên nàng chầu chực hôm mai/ Dập dìu nơi chốn trang đài/ Chính cung Mẫu ngự trong ngoài sửa sang…”.
Bị tiếng hát của người đàn bà ám ảnh, dẫn dụ, để không lâu sau đó chúng tôi đi theo người đàn bà lạc vào không gian âm nhạc huyền bí, mờ ảo. Người đàn bà ngoài 50 tuổi cất giọng véo von, tay trống, tay phách, bên cạnh là người con trai cả gảy đàn tranh, tiếp đến là cậu con út cầm trống cái. Cả nhà người đàn bà hát văn cứ trống phách liên hồi, dồn dập khi rộn rã tưng bừng lúc lại nỉ non, bi tráng. "Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ" tháng này khách hành hương đổ về đền Trần ngày một đông. Sáu cung chật ních toàn người hầu.
Mặc cho dòng người ngược xuôi, rì rầm khấn vái, mặc cho những náo động ồn ào vang vọng, người đàn bà đó vẫn say sưa với cung đàn, tiếng hát của mình. Người đàn bà nhìn mà như không nhìn. Mà chị hát cho ai nghe? Tấp nập những người khách bộ hành? Hay là tiếng hát thấu đến trời cao vời vợi nơi có 14 vị vua Trần hiển thánh hay Đức Thánh Trần Hưng Đạo đại vương hiển linh? Hoặc cho chính bản thân mình?! Thật ra là cả ba. Vì nếu không có tiếng hát văn (một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam) để hòa vào không gian đậm chất huyền ảo lôi cuốn, thì điện ở đây lại yên ắng quá mức, và không gian tâm linh như thiếu một cái gì đấy không nói rõ lên bằng lời. Không có tiếng hát văn trong điện thờ được ví như bầu trời không có mây, như mùa xuân không có mưa phùn, như mùa thu không có cơn gió heo may dịu nhẹ, như mùa hạ không có nắng vàng…
Nhà chị ở đường Kênh, phường Lộc Vượng, TP Nam Định cách đền Trần vừa vặn hai cây số. Đã gần chục năm nay, vào những ngày lễ hội, mấy mẹ con nhà chị Diệu vẫn trải chiếu trong đền hát hầu cửa Thánh. Chị Diệu năm nay đã 52 tuổi, cậu con trai cả Trần Huy Sơn cũng vừa tròn 30, cậu út Huy Kỳ 26 tuổi, người mẹ vừa dứt lời thì người con lại cất tiếng hát, cứ thế họ hát nối cùng nhau. Thi thoảng khách thập phương lại bỏ những đồng tiền trên mâm sắt để thụ lộc rơi, lộc vãi. Căn nguyên chi dẫn mấy mẹ con chị đến với nghề hát này?!
Dòng tộc nhà chị mấy đời làm nghề ca hát. Ông chị một thành viên nức tiếng của xã biết diễn tuồng, cha mẹ chị ngày xưa cũng rất thích văn nghệ. Đất Nam Định lại là cái nôi văn hóa của đạo Mẫu với những Phủ Giầy, đình, đền, miếu mạo khắp làng trên xóm dưới. Ngày chị thơ bé mỗi khi được cùng bà và mẹ lên đến cửa chùa, cửa đền đã bị mê hoặc bởi tiếng hát văn kỳ lạ. Rồi chẳng hiểu thế nào, cái tiếng phách, tiếng kèn, tiếng trống của người cung văn có sức thôi miên, mê hoặc làm cho chị - cô bé con ngày đó - vẫn thường trốn nhà đến đền đứng lấp ló vào một nơi để nghe hát.
Nhưng, có lẽ duyên cũng chưa thành, 40 tuổi chị mới bén "duyên với thánh" được hát văn. Có lẽ, chính vì ước muốn từ tuổi thơ không thành nên khi sinh hạ cậu con trai đầu, chẳng hiểu ra sao nó cũng bị lời ca tiếng hát của cửa đền, của phủ mê hoặc dẫn dụ. Năm 13 tuổi, Sơn nhất mực bảo mẹ kiếm cho một ông thầy dạy hát. Người mẹ thương con lại nhớ đến mình từ thủa xưa nên ủng hộ, chọn ngày lành tháng tốt dẫn cậu con trai đến học một ông thầy hát chèo trên tỉnh. Vốn có năng khiếu, học được hai tháng thằng bé đã nắm được đường luật của lối hát văn, lại biết gẩy đàn, đánh trống. Hai năm cắp tráp theo thầy đến năm 15 tuổi, Sơn chính thức trở thành một nghệ sĩ hát văn thực thụ.
Từ thuở nhỏ, Sơn đã thuộc lòng những bài hát hầu các giá. Vậy là 17 năm nay cậu con trai cả của chị đã chuyên tâm và chỉ làm duy nhất nghề hát cung văn. Việc hầu cửa Thánh không chỉ một mình cậu con trai cả mà cậu con trai út cũng bén duyên. Sau hai năm trong quân ngũ, khi trở về Huy Kỳ lại nằn nì với mẹ cho đi học đàn vì hát thì nghe mẹ và anh ở nhà đã hát mãi rồi. Chị bảo: "Ông Thánh chưa để tâm nên thằng út còn mải chơi, văn vẻ chưa được thuộc lắm. Còn thằng lớn ông Thánh để tâm nên chịu khó học. Nó đàn hay...".
Bản thân chị Diệu không học thầy học thợ mà chỉ học mò. Tuy vậy, bài văn hầu 36 giá đồng chị đều thuộc làu làu cả, lại giọng vốn liêu trai, cũng duyên nghiệp với cửa đền, cửa đình, bao nhiêu năm nay cả gia đình mấy mẹ con người tay trống, tay phách rong ruổi cùng nhau khắp chốn cùng nơi chỉ đi hát văn thôi. Thánh cho ăn lộc, cả nhà sống bằng giọng hát của mấy mẹ con chị.
Người đàn bà tư lự rồi quả quyết một điều: "Phải có duyên, có căn có quả, chứ không phải ai cũng đi hát cung văn được đâu. Ông Thánh cho làm thì được chứ ông không cho làm thì có học đến mấy cũng chữ thầy trả thầy thôi". Chị kể, có cô bán lòng lợn ở chợ Mỹ Tho, cắp tráp theo chị hát ở đền, hát theo chị thì được nhưng cứ ra khỏi cửa đền thì quên khuấy không biết một câu văn nào cả.
Tại sao tại những buổi hát văn người ta thấy người nữ thường có cái phách, thanh la và cái trống con, thật ra hát văn đa phần người nam vừa đàn vừa hát còn người nữ chỉ cầm phách thôi, chứ ít người cầm được đàn. Những người hát văn ở khu đền Trần đều nói giống nhau cả. Họ bảo: "Hẳn là phải có duyên với ông Thánh lắm, nên một tháng mà không đi hát được đôi lần thì những người hát văn mắc chứng bệnh đau đầu. Không đi hát thì cứ như người ốm vờ". Thế nhưng chỉ cần họ đến cửa của các cô, các ngài tấu một bài thì bao nhiêu ốm mệt lại vui vẻ đội nón ra đi?
Chị Diệu nói về nghề như được khơi nguồn, cả gia đình mấy mẹ con say sưa khi hát hầu cửa Mẫu, cửa Ông, cửa Thánh là quên đi mệt nhọc, chẳng thấy đói khát gì cả. Khi hát họ quên ăn, quên uống, quên cả nghỉ ngơi, ngồi cả ngày, mỗi giá hầu từ 4 đến 8 tiếng, lắm lúc có các giá hầu thâu đêm suốt sáng mấy mẹ con vẫn say sưa cung đàn nhịp phách. Càng hát lại càng say. Lửa nghề đã đượm. Mỗi một giá đồng là có một sự tích lịch sử của một vị thần, vị thánh. Giữa đồng (người hầu đồng) với văn (người hát văn) cứ nhìn thấy nhau thì như cá gặp nước. Đồng nghe những câu văn hay thì lại rút hầu bao thưởng cho tiếng hát lời văn.
Nghề hát này rôm rả nhất là vào những dịp lễ, tết. Gần chục năm nay, ngay cả ngày 30 tết, mấy mẹ con vẫn bìu díu nhau đi hát, từ lúc 6, 7 giờ tối hát sang canh rồi về xông nhà, đến sáng mồng 1 lại cùng nhau đến cửa đền. Cửa chùa có ban Tam Bảo thờ Phật không hát văn chứ bên dưới ban Tam Bảo là bên thờ Mẫu, bên thờ Thánh đều có hát văn. Nơi thờ Phật thì thường để các già, các vãi tụng kinh cho yên tĩnh. Người ta cũng không lý giải ra sao, chuyện về nghề hát cung văn, kỳ lạ thay, ông Thánh sắp xếp thế nào, mẹ con, hoặc bố con đi hát thì nhiều chứ hiếm lắm mới có cặp nào hai vợ chồng cùng đi hát (?!).
Mà nghề này cũng đến lạ, tiền kiếm được lại phụ thuộc nhiều vào đồng (người hầu đồng). Đồng chia làm hai loại đồng sang (nhiều tiền), đồng nát (đồng nghèo). Chị kể gặp những "đồng sang" người hát văn mà hát hay, cô đồng, cậu đồng hứng lên cho thì tiền họ thả như lá mùa thu. Đồng cấy lúa ít tiền, đồng buôn bán kiếm được ra tiền thì người ta phóng khoáng hơn. Vào vụ mùa thu hoạch của nghề hát văn từ tháng giêng cho tới tháng 3, rồi lại đến tháng 8 là tháng giỗ cha (Đức thánh Trần Hưng Đạo), chị kể, mấy mẹ con chỉ làm phè phẹt cối xay mỗi tháng cũng được 50 triệu còn có người hát khá khá thu nhập cũng được 100 triệu đồng một tháng. Ở quê nông dân cấy lúa thì mỗi giá hầu ba mẹ con được trả trên dưới 1 triệu, nhưng lắm khi gặp đồng sang, đồng giàu mỗi giá hầu có khi lên tới gần chục triệu.
Còn như hôm nay đây, ngồi hát ở cửa Thánh, khách thập phương đi qua đi lại đủ cả các thành phần, người ta thưởng tiền cho lời ca tiếng hát, mấy bác nông dân chân lấm tay bùn 6 tháng mới có một mùa thóc chỉ thả vào khay 500 đồng con, hay 1.000 nghìn đồng thì mẹ con chị cũng phải có lời cám ơn với người ta bằng câu cửa miệng "A di đà phật". Nhưng lắm người có của ăn của để phóng khoáng để lên khay dăm chục nghìn hoặc một, hai trăm nghìn. Người hát văn lại tấu lên hát: "Chúng con dòng họ… về đây khấu đầu lạy đức vua cha…".
Trong khu đền Trần có một ông hát văn, người ta quen gọi là ca sĩ Vũ Đình Trung. Ông Trung 67 tuổi ở xóm Liễu, thôn Vọng Cổ, xã Đại An, huyện Vụ Bản, Nam Định. Ông ra ngồi hát cung văn ở khu đền Trần đã 22 năm. Ông biết hát văn từ thời kỳ đánh Mỹ, trước đây ông đi bộ đội, rồi sau giải ngũ, ông có 12 năm theo nghề nông cấy cày đồng áng. Chẳng hiểu duyên cớ ra sao, năm 1990 ông ốm một trận thập tử nhất sinh, sau trận ốm nhớ đời ấy, ông bốc đồng chỉ muốn đến cửa đền để hát. Thế là ông ôm đàn, ôm trống đến xin ngồi cửa Thánh, Đức Thánh Trần Hưng Đạo của đền Trần. Ông bảo: "Trời cho tôi hát chứ tôi không qua một trường lớp nào cả".
22 năm đi vào nghề hát văn, nói về buồn vui của cuộc đời, ông bảo: "Hầu Thánh thì chỉ có vui chứ không có chi buồn cả. Ngày nào được đến cửa Thánh là vui vẻ." Nhà ông cách cửa đền 7 cây, hàng ngày chuông đồng hồ điểm 4 giờ sáng ông đã đi đến đền, tối 7 giờ ông rời khỏi đền về nhà. Hôm nào cũng thế, sớm tinh mơ ông đến mở cửa đền, hát thỉnh ban công đồng, thỉnh mời vua, mời thánh về rồi ông mới đi ăn sáng.
Nhưng hội đền Trần chỉ có từ tháng giêng cho đến hết tháng 2 âm lịch, rồi tháng 8, tháng 9, những tháng còn lại ông Trung lại rong ruổi các đền phủ quanh đất Nam Định, có khi lại lên tận tít tắp vùng núi cao hay miền quê nào đó để hát cho các giá hầu. Ông là hội viên Hội Thơ Đường luật Việt Nam, ngồi hát văn ở đây ông làm nhiều bài thơ, câu thơ, ông hát tôi nghe văng vẳng ngân nga mấy câu còn đọng lại: "Gió mây bay bổng cánh diều/ Hương hồn Phật Thánh cuốn theo hương trầm"