Có thể nói, đây là một con người lạ lùng. Với cơ thể đầy bệnh tật, liệt một chân, nhưng bằng ý chí và lòng khát khao cuộc sống, cô đã vươn lên, sống và làm việc, không những bản thân mình không thành gánh nặng mà cô còn giúp đỡ được bao nhiêu hoàn cảnh khác, góp công sức của mình vào công việc của Hội Nạn nhân chất độc da cam.
Tập đi để đứng được trong đời
Năm 1966, trong một gia đình nghèo tại thôn Suối Sưa, xã Tam Lộc, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, một bé gái chào đời. Ông Phạm Kha và bà Lê Thị Lợi, là cha mẹ đứa bé, nhìn con mà lòng cứ phấp phổng lo âu. Lo âu bởi trước đó, bà Lợi đã sinh ra hai bé trai mặt mũi kháu khỉnh nhưng không sống được. Một đứa chưa đủ tháng đã chết. Đứa sau lọt lòng ra là cứ khóc ngằn ngặt suốt một ngày trời rồi cũng tắt hơi.
Người mẹ hai lần khóc con nước mắt gần như đã cạn, nên lần này bà rất lo sợ. Bà nghe người ta nói rằng có thể ông bà bị chất độc da cam nên ảnh hưởng đến con. Ông Phạm Kha tham gia cách mạng từ rất sớm. Hơn chục năm tham gia kháng chiến, đôi chân ông đi khắp cả vùng liên khu V. Vùng đất này chất độc da cam ai cũng biết.
Theo kết quả của một nghiên cứu kéo dài 5 năm do các chuyên gia sức khỏe môi trường thuộc Đại học Columbia (Mỹ), từ năm 1961 tới năm 1971, lượng chất độc da cam và các chất làm rụng lá khác mà quân đội Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam lên đến 100 triệu lít, và khúc ruột miền Trung từ Quảng Trị trở vào đến Tây Nguyên gần như gánh trọn.
Chính vì vậy lần sinh con này người mẹ rất lo âu. Một năm sau, nỗi lo sợ đã thành sự thực khi chân trái đứa bé hoàn toàn bất động. Bác sĩ kết luận: Đứa bé bị tật bẩm sinh, liệt chân. Ông bà đón nhận cái tin như sét đáng ngang tai, người mẹ lại lần nữa ôm con, lòng nghẹn đắng.
Đứa bé đó chính là Phạm Thị Nhí, hiện đang công tác tại Hội Nạn nhân chất độc da cam, 331 Trần Hưng Đạo B, quận 5, TP HCM.
Lớn lên một chút, Nhí bắt đầu có những cảm nhận về sự thua thiệt của mình so với bạn bè. Nhưng chính nhờ hiểu được điều này mà cô bé đã có một nghị lực phi thường. Việc đầu tiên là cô bé tập đứng rồi tập đi. Tay tựa thành giường, cố sức kéo lê tấm thân nặng nề nhích đi từng chút một.
Cứ mỗi bước đi Nhí phải khom người xuống, một tay nắm vào điểm tựa, tay kia nhấc chân trái lên đưa tới trước. Bỏ tay ra khỏi điểm tựa thì té ngã liên tục. Té lên té xuống bầm dập nhưng nỗi khát khao được đứng lên cháy bỏng trong trái tim bé nhỏ. Ngã xuống lại đứng lên, lại tập. Mồ hôi túa ra ròng ròng, cơ thể đau đớn, chân như muốn rớt ra, nhưng Nhí vẫn không nản chí.
Cuối cùng rồi Nhí cũng chiến thắng được tật nguyền. Sau 5 năm ròng rã tập luyện, năm lên 10 tuổi cô bé đã đi được trên một chân còn lại của mình. Khỏi phải nói khi bỏ được tay ra khỏi điểm tựa và bước đi những bước đầu tiên, cô bé đã mừng rỡ như thế nào.
Trên gò má nhăn nheo của người mẹ, những giọt nước mắt buồn đau khi nhìn con luyện tập nhọc nhằn nay đã thay bằng giọt nước mắt mừng vui. Từ đây Nhí đã tự đến trường bằng đôi chân của mình mà không còn phải thêm một người cõng đi như nhiều năm qua nữa.
Sau đó Nhí tập xe đạp. Lần té ngã nặng nhất Nhí bị gãy tay. Khỏi bệnh, em lại tiếp tục tập luyện. Và chỉ với một chân lành, Nhí cuối cùng đã chinh phục được chiếc xe.
Ba lần tự tử không thành
Nhí là học sinh giỏi nhất nhì trong lớp. Cấp 1, cấp 2 rồi cấp 3, những lớp cuối cấp Nhí đều là thành viên trong đội tuyển học sinh giỏi Văn của tỉnh thi quốc gia. Nhưng ông trời cho niềm vui này lại buộc phải trả bằng nỗi đau khác. Với thành tích học sinh giỏi Văn, theo quy chế Nhí được tuyển thẳng vào Đại học Sư phạm. Ước mơ của Nhí là trở thành cô giáo đứng trên bục. Một ước mơ đẹp và thật giản dị nhưng trớ trêu cho hoàn cảnh tật nguyền, Ban Tuyển sinh không chấp nhận.
Đời có những éo le, Nhí ghi nguyện vọng 2 là Trung cấp Văn thư lưu trữ thì người ta không chuyển, mà lại chuyển về Cao đẳng Sư phạm! Và một lần nữa cô gái phải đau đớn đối diện với thực tế phũ phàng khi một lần nữa bị từ chối. Ngày nhập trường, vừa thấy cô gái khập khiễng bước vào, ông cán bộ phòng giáo vụ đã xua đây đẩy mặc Nhí hết lòng năn nỉ. Những lời nói của vị cán bộ nọ như những nhát dao đâm xuyên thấu tâm can của cô gái tật nguyền.
Bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu ấp ủ đành tan thành mây khói. Lần đầu tiên trong đời Nhí xót xa nhận ra sự thua thiệt của bản thân. Trong cơn nỗi tuyệt vọng, trên đường về cô vùng dậy lao đầu ra khỏi xe. May sao người lơ xe kịp thời giữ cô lại. Lát sau Nhí vẫn tiếp tục lao ra nhưng hành khách trên xe đề phòng nên ngăn lại và khuyên lơn, cô mới nguôi ngoai.
Sau nghỉ hè, bạn bè đứa vào trường, đứa đi làm xa, Nhí ở lại quê nhà với một khoảng trống mênh mông và nỗi buồn cào xé. Lại nghĩ đến sự thua thiệt cô không còn thiết sống nữa. Nhí chạy ra sau vườn, tìm kiếm chai thuốc trừ sâu. Nhưng hình như ông trời vẫn không cho Nhí chết. Vừa lúc người mẹ ra vườn và nhìn thấy, giật lại. Bà kéo con vô trước bàn thờ bà nội, vừa khóc vừa nói: "Mẹ về mà chứng kiến cháu của mẹ. Nó trả hiếu cho ông bà cha mẹ là như thế này đây!". Nói rồi hai mẹ con ôm nhau khóc.
Sau cái lần dại dột ấy, nghĩ thương mẹ, Nhí không nuôi ý nghĩ tự tử nữa. Chính quyền địa phương thương cô học trò học giỏi nhưng bất hạnh, gọi Nhí ra làm công việc văn thư, rồi làm tư pháp. Vùng đất nơi gia đình Nhí chuyển đến thuộc vùng kinh tế mới của tỉnh Bình Thuận, phần lớn trẻ em không có giấy khai sinh nên không đến trường được. Nhí đã đến từng nhà, ghi chép và làm giấy khai sinh cho từng em nhỏ và động viên các em đến trường.
Thấy cô gái năng nổ, Trường tiểu học Nghị Đức 1 gọi Nhí về làm nhân viên thư viện cho trường. Từ một đống hồ sơ lộn xộn, qua sự sắp đặt ngăn nắp của Nhí, thư viện trường được công nhận thư viện tiên tiến cấp Bộ. Những năm làm việc ở đây, Nhí tổ chức hội thi kể chuyện theo sách hàng năm và sau đó trở thành phong trào của toàn huyện và toàn tỉnh. Khỏi phải nói niềm vui đến với Nhí lớn đến mức nào.
Hiến xác để khoa học nghiên cứu chất độc da cam
Bước ngoặt lớn nhất đến với Phạm Thị Nhí và làm thay đổi cuộc đời cô, là khi vào làm việc tại Hội Nạn nhân chất độc da cam TP HCM (VAVA). Có người thấy cô năng nổ, ham làm, ham học, nên giới thiệu cô với Làng trẻ em chất độc da cam Hòa Bình (thuộc Bệnh viện Từ Dũ). Từ đây, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, lúc đó là Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, giới thiệu chị với VAVA.
Tại đây, cô lao vào làm việc với tất cả lòng khát khao của một con người mong được sống như một người bình thường, được đem chút sức mọn của mình góp phần làm dịu đi nỗi đau của bao người đồng cảnh vì mang thứ chất độc quái ác kia.
Ngoài việc phụ trách một công việc trong cơ quan thường trực Hội, cô còn đi khắp nơi, tiếp xúc với hàng ngàn trường hợp khó khăn. Những hình ảnh trẻ em tật nguyền, ngơ ngác khiến trái tim cô nhói đau, bởi hơn ai hết, cô hiểu được nỗi mất mát, đau đớn của các em. Đi đến đâu cô cũng dịu dàng chăm sóc, dịu dàng sẻ chia, ghi tên họ và hoàn cảnh, chụp hình làm tư liệu, lập hồ sơ danh sách để khi có dịp là tìm cách hỗ trợ.
Ở nơi thành phố với cơ sở làm việc đủ tiện nghi, cuộc sống không thiếu thốn nữa, nhưng trái tim của Nhí luôn hướng về quê hương. Ngày về thăm quê, thấy các em nhỏ lội suối đi học, cô vận động doanh nhân Võ Thị Hồng Sương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công cổ phần Như Ý (nghệ sĩ Phượng Nga) tài trợ xây cầu. Ngày khánh thành, bà con thôn Suối Sưa ôm Nhí mà khóc, mà cười trong nước mắt.
Niềm khát khao được học trong đời vẫn không nguôi trong cô. Những năm làm việc ở Hội, cô đã đăng ký học đại học từ xa ngành Xã hội học, chỉ còn một năm nữa là tốt nghiệp. Không những thế, Anh văn và vi tính là hai môn phụ trợ đi kèm không thể thiếu, cô vẫn ngày đêm ôn luyện.
Trong câu chuyện, cô nói rằng cuộc đời này đã yêu thương và cho cô rất nhiều. Và, để trả ơn cho cuộc đời đã cưu mang, cô nguyện sẽ dâng hiến chính thân xác nhiễm độc của mình cho khoa học.
Nhí nói, cô bệnh nhiều lại hóa hay cho khoa học, khi khoa học có được một mẫu thực để nghiên cứu các tác động, các loại bệnh có nguồn gốc từ dioxin gây ra. Một quyết định đến với cô thật nhẹ nhàng, nhanh chóng, không hề phân vân, thậm chí nói đến điều này cô cảm thấy hạnh phúc.
Những người nước ngoài đến Việt Nam làm công tác xã hội rất lấy làm ngạc nhiên trước niềm lạc quan, tình yêu con người, yêu thương và trân trọng cuộc đời và tinh thần làm việc của Nhí. Và càng tiếp xúc với Nhí, họ càng nhận ra rằng, chất độc có thể tàn phá thân xác nhưng không thể tàn phá tâm hồn nhân hậu của người Việt Nam.
Tại một hội nghị quốc tế về nạn nhân chất độc da cam, Phạm Thị Nhí đã gửi đến các bạn trẻ, các nạn nhân chất độc da cam thông điệp đầy tình yêu thương: "Tôi muốn gửi thông điệp đến tất cả bạn bè cùng chung cảnh ngộ, hãy tự tin và vượt lên số phận! Ý chí và nghị lực luôn luôn là động lực cho nạn nhân da cam vượt qua nỗi đau xuyên thế kỷ này"