Chuyện ở đầu đường 19 và...

Chiếc Comangca của Quân đoàn 3 chạy trong đêm, đưa tôi từ Pleiku, theo Quốc lộ 19, xuống ga Diêu Trì, lúc 1 giờ sáng. Lúc đi lên Tây Nguyên, tôi cũng đi trên con đường này, theo chiều ngược lại. Quốc lộ 19 là con đường nổi tiếng. Nó bắt đầu từ cảng Quy Nhơn, xuyên ngang tỉnh Bình Định (68 km), xuyên ngang Gia Lai (171 km) và kết thúc tại Cửa khẩu Lệ Thanh, giáp giới Campuchia...

Ga Diêu Trì nằm ở phần đầu con đường này. Nghe nói đây là một phần của đường “Thượng Đạo” xưa, mà quan quân Lý -Trần từng đi để “bình Chiêm”; mà Quang Trung cùng các đô đốc của mình từng vào ra để “dẹp Trịnh”, “trừ Nguyễn”, “bình Thanh”...

Không may, tàu hỏa ra Bắc chậm 2 tiếng! Đi cùng tôi là một sĩ quan thuộc Nhà văn hóa Quân đoàn, Thượng úy Lương Hải Nhuận và đồng chí lái xe có họ tên là Nguyễn Xuân Soạn.

Con đường tuyệt đẹp chạy ngang rừng cao su gần tới Quốc lộ 19.
Con đường tuyệt đẹp chạy ngang rừng cao su gần tới Quốc lộ 19.

Thực ra, hai người bạn đường mà tôi vừa kể, nhận lệnh Quân đoàn, hộ tống tôi cùng anh trai tôi, anh Đỗ Trung Cẩn, xuống ga Diêu Trì và chỉ được quay về đơn vị sau khi anh em tôi đã lên tầu ra Bắc.

Vì tầu chậm những 2 tiếng, tức là tới 3 giờ sáng, chúng tôi mới có thể chia tay nhau, chúng tôi chọn một quán bia nhỏ bên ga, dùng một chút cho lại sức và đợi tầu.

Vừa định nâng ly, Lương Hải Nhuận kêu lên:

- Không được! Chúng ta không thể chạm ly mà thiếu bác Cẩn.

Rồi không để tôi kịp nói gì, Nhuận ra xe, nâng anh tôi bằng hai tay, đưa vào quán, đặt lên chiếc ghế nhựa bên bàn. Nhuận bầy đủ cả ly bát trước anh tôi.

- Thế là tròn mâm bốn - Nhuận khẽ nói.

Tôi rơi nước mắt. Anh Cẩn của tôi đó. Anh hai của tôi đó. Bây giờ, anh nằm gọn trong một chiếc túi du lịch, sau một lớp ni lông và một lớp vải liệm!

Phải, anh tôi hy sinh ngày 28 tháng 3 năm 1971 ở Tây Nguyên, lúc tròn 30 tuổi. Anh nhập ngũ năm 1965 và “Đi B” (Đi chiến trường miền Nam) cùng năm. Bây giờ, gần sáng, tại Diêu Trì, sau 28 năm trời, nhờ Quân đoàn 3 giúp đỡ, tôi mới có thể đưa hài cốt anh trai mình rong ruổi về quê và mới được chạm ly với anh, trong hoàn cảnh ấy!

Nhắc tới Quân đoàn 3, tôi không thể không dừng lại ở đây để kể về sự “nghĩa hiệp” của các anh em tại đây, trong việc này.

Số là, khi vào đến Pleiku, tôi có đến làm việc với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Gia Lai để xin phép họ cho tôi được bốc mộ anh tôi về Bắc. Một cán bộ phụ trách ở đó cho tôi biết, việc ấy là không thể!

Lý do : Lúc ấy chưa có nghị quyết liên bộ (giữa Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng) cho phép đưa hài cốt liệt sĩ rời nghĩa trang.

Về lý, tôi đành chịu! Nhưng về tình thì tôi không biết làm thế nào. Cha tôi đã mất (1984), mẹ tôi lúc ấy cũng đã 88 tuổi rồi. Bao năm qua, cha mẹ tôi ngày ngày đau đáu khôn nguôi vì chưa đưa được anh tôi về!

Nhìn từ đèo Gia Bắc, núi non trùng điệp dưới mây trời trong xanh.
Nhìn từ đèo Gia Bắc, núi non trùng điệp dưới mây trời trong xanh.

Đem nỗi lòng ấy tâm sự với các anh em ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, ai cũng ái ngại cho chúng tôi. Rồi cuối cùng, một vị chỉ huy nói lớn:

- Có cách rồi! Chiều nay, Quân đoàn sẽ cử một cán bộ chính sách đi mời người quản trang vào Bộ Tư lệnh để trao đổi. Nếu anh ấy đồng ý giúp thì đêm nay ta bốc mộ bác Cẩn. Bốc xong, xe quân đoàn chờ sẵn chân đồi, lập tức chở bác xuống Diêu Trì, mộ phần bác thì cho xây lại như cũ. Còn nếu quản trang không đồng ý, Quân đoàn sẽ giữ anh ấy lại trong doanh trại và ta vẫn thực hiện công việc theo kế hoạch. May mắn làm sao, người quản trang đồng ý và “kịch bản xấu nhất” đã không phải dùng đến!

Đêm hôm ấy, tôi cùng ba sĩ quan của Quân đoàn 3: Trần Đức Lan - Đại tá - Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Trung tá Hà Quân ở Cơ quan Chính trị Quân đoàn và Thượng úy Lương Hải Nhuận - cán bộ Nhà Văn hóa Quân đoàn như tôi đã kể ở đầu bài; bỏ xe máy ở chân đồi sắn cạnh nghĩa trang, trèo tường vào gặp người quản trang. Mọi việc diễn ra như kế hoạch và rồi anh tôi mới đến được Diêu Trì cùng chúng tôi như tôi đang kể.

Trở lại với Diêu Trì.

Thế là cứ mỗi một lần nâng ly, chúng tôi lại cùng chạm vào ly của anh tôi. Mắt ai cũng cay xè và mặt mũi chúng tôi, trong mắt mọi người ở đó lúc ấy, chắc hẳn là khác thường lắm!

Đến một lúc, không thấy ai rót bia cho chúng tôi nữa! Gọi, chỉ có cô chủ quán rón rén và run rẩy tới bên bàn. Cô ấy bảo:

 - Các em chúng nó nhìn các bác chạm ly mà hãi quá, không đứa nào dám ra nữa! Em cũng thế, nhưng vì các bác gọi mà phải ra vậy! Thật sự là thế nào, các bác ơi!

Khi ấy, tôi đành phải đứng lên và nói rõ sự tình rồi có lời:

 - Sự thực là như vậy. Nếu nhà hàng không thuận, chúng tôi xin được dời đi. Còn nếu nhà hàng thông cảm, tôi xin được thắp một nén nhang khấn anh tôi, để anh phù hộ cho nhà hàng ta luôn phát đạt.

Cô chủ quán đáp:

 - Chưa biết thì chúng em rất sợ. Giờ biết rồi, không sợ quá nữa. Các bác cứ ngồi cho đến lúc tàu về.

Y hẹn, tôi châm một nén nhang, khấn xin anh tôi phù hộ cho nhà hàng và theo gót cô chủ quán, cắm lên bát hương cầu lộc của họ.

Tàu về, tôi chia tay Nhuận và Soạn, lên tàu cùng hài cốt của anh mình, ra Bắc. Sáng sớm hôm sau, tầu về đến ga Hàng Cỏ. Do đã hẹn trước, vợ tôi đón sẵn ở đó và chúng tôi thuê xe đưa hài cốt anh mình về quê - về xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, Hà Đông cũ, nay là Hà Nội. Cũng do hẹn trước mà khi chúng tôi về đến nơi, tại sân vận động xã, các vị lãnh đạo “Quân - Dân - Chính - Đảng” và đông đảo đồng bào Phùng Xá đã chờ sẵn, tiến hành lễ truy điệu và đón anh tôi vào Nghĩa trang Liệt sĩ xã. Kỳ lạ nhất là khi đồng chí Chủ tịch xã đọc xong điếu văn truy điệu, tôi mới biết, hôm ấy cũng là ngày (dương lịch) anh tôi hy sinh! Trước đó, theo tập tục cúng giỗ dân gian, trong đầu tôi chỉ nhớ ngày âm lịch (mùng ba tháng Ba) thôi. Và rồi bỗng nhiên, toàn bộ hương trên chiếc lư lớn như chiếc vạc, cùng bốc cháy, cháy hết cả chân hương, cháy đến bằng mặt cát! Anh tôi giờ đã thực về nhà chăng?

Nhiều năm trước, cha mẹ tôi không thể chờ anh tôi và đã khuất núi. Bây giờ, chắc dưới suối vàng, cha mẹ tôi đã có thể bớt ngậm ngùi.

Bây giờ, tất cả các anh em trực tiếp giúp tôi ngày ấy đều đã nghỉ hưu. Tôi cũng vậy. Nhưng cứ đến ngày 28 tháng 3 dương lịch hoặc ngày mùng ba tháng Ba âm lịch, rồi ngày 27 tháng 7 hằng năm, tôi lại không thể không nhớ Quân đoàn 3, con đường 19 và ga Diêu Trì được.

Khi bốc mộ anh tôi, tôi thắp hương, đọc rồi đốt hai bài thơ tôi viết tại Nghĩa trang Liệt sĩ Pleiku trong những ngày chờ di dời hài cốt anh mình, một bài viết về toàn thể 3.000 ngôi mộ liệt sĩ ở đó (có 3 ngôi mộ tập thể!) và một bài viết riêng cho anh Cẩn của tôi. Theo nhật ký của bác sĩ Lê Cao Đài, người mở ra Bệnh viện Tây Nguyên thời chống Mỹ (Bệnh viện 211), thì trong tổng số thương bệnh binh nhập viện và không thể cứu nổi ở đây, chỉ có 15% hy sinh trực tiếp vì bom đạn. 85% liệt sĩ còn lại, hy sinh vì rất nhiều lý do khác như : Sốt rét, đói, tai nạn đường rừng... Trong đó, nhiều nhất là vì sốt rét! Tôi cũng được nghe kể rằng một lần, mới đây thôi, đội “Quy tập hài cốt liệt sĩ” của Quân khu Bốn đang đi giữa rừng già trên đường Trường Sơn cũ thì thấy tít trên cao, một chiếc võng Ca-pơ-rông lính đang đung đưa trên trời giữa hai cây lớn. Trèo lên, trong võng là... một bộ hài cốt liệt sĩ ta! Họ đoán rằng, thời chống Mỹ, người chiến sĩ này, vì sốt rét hoặc đói giữa rừng, đã buộc võng vào hai cái cây kia, nằm nghỉ và không bao giờ trở về nữa! Lâu năm, cây lớn dần và nâng mãi chiếc võng cùng  liệt sĩ lên cao!

Hai bài thơ ấy như sau:

Đỗ Trung Lai

Các tin khác

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

“Việt Nam thành công không chỉ vì đạt được thành tựu đáng chú ý, mà còn vì đã tìm ra con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn quốc gia”, Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ chia sẻ. Còn với Đại sứ Liên minh châu Âu Julien Guerrier, trong 30 năm qua, mỗi lần ông đến Việt Nam đều cảm nhận sự đổi thay và tiến bộ rõ rệt...