Những góc nhìn trái ngược
Trên thế giới nói chung và ở Mỹ nói riêng đã từng có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các chi phí hành chính và đầu tư nhà nước tới hoạt động của nền kinh tế. Có những học giả chống lại các khoản chi lớn cho bộ máy điều hành quốc gia.
Những tính toán của James S. Guseh, tác giả công trình nghiên cứu Kích cỡ chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, in trên tạp chí Journal of Macroeonomics, cho thấy, nếu tăng đội ngũ viên chức lên 1% thì tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ giảm 0,143%. Còn nhà nghiên cứu
Ông đã đưa ra kết luận: việc gia tăng các chi phí hành chính và đầu tư nhà nước thêm 1% GDP sẽ dẫn tới gia tăng tỉ lệ thất nghiệp từ 0,36 tới 1%. Cũng trong năm 1999, Ủy ban quốc gia các nghiên cứu kinh tế của Mỹ đã tổng kết được rằng, nếu giảm các chi phí hành chính 1% thì sẽ giúp làm tăng trưởng mức độ đầu tư thêm 0,8% GDP trong vòng 5 năm.
Một công trình nghiên cứu khác do Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tiến hành cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước có thành phần chính phủ nhỏ gọn thường cao hơn so với những quốc gia có bộ máy quản lý cồng kềnh, đông người.
Ngay tại các nước có mức độ phát triển cao, chi phí hành chính ở mức độ thấp sẽ ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Thí dụ, tại Nhật Bản, trong những năm 60 của thế kỷ trước, khi chi phí hành chính và đầu tư nhà nước không vượt quá 22% GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã là 10,6% một năm.
Tới năm 1996, chi phí hành chính và đầu tư nhà nước tăng lên tới 36,9% GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã sụt xuống chỉ còn 2,2% một năm. Tình hình tương tự cũng đã xảy ra tại Anh. Trong những năm 60 của thế kỷ trước, chi phí hành chính và đầu tư nhà nước tại đây ở mức 32%GDP, còn trong 20 năm sau đó, chi phí này tăng lên tới 47,2%.
Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng kinh tế của “hòn đảo sương mù” đã bị suy giảm một phần ba! Còn trong giai đoạn từ năm 1982 tới năm 1989, khi chi phí hành chính và đầu tư nhà nước của Anh giảm xuống chỉ còn 40,75% GDP, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở đây đã tăng lên từ 2,2 tới 3,7%...
Những số liệu thống kê cho thấy, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất là ở các nước đã giảm mạnh các chi phí hành chính và biên chế trong bộ máy quản lý quốc gia như Ireland, New Zealand, Slovakia...
Cũng có những học giả ủng hộ chủ trương gia tăng mức độ đầu tư nhà nước vào xã hội. Họ cho rằng, đầu tư nhà nước ở mức độ cao sẽ giúp cải thiện một cách căn bản hạ tầng cơ sở (thông qua các dự án xây dựng đường xá, cầu cống...), tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hơn (thông qua đầu tư và ngành giáo dục)...
Thêm vào đó, nếu chính phủ trả lương cao cho các viên chức của mình thì cũng có nghĩa là giải quyết bài toán kích cầu, tạo thêm thị trường tiêu thụ và bằng cách này, thúc đẩy sản xuất phát triển. Và như vậy là những đầu tư lớn của nhà nước sẽ tạo nên một “quỹ ổn định” đối với nền kinh tế. Những chi phí lớn của nhà nước cũng góp phần cải thiện môi trường, làm giảm tỉ lệ phạm pháp...
Những học giả ủng hộ mức độ chi phí hành chính và đầu tư nhà nước cao cho rằng, trợ cấp thất nghiệp cũng là phương thức hay để hỗ trợ cho toàn bộ nền kinh tế. Theo công trình nghiên cứu của Peter Orszag, nhân viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Brookings Institution, chi phí của những người thất nghiệp được trợ cấp cho việc trả tiền nhà, ăn uống và mua nhu yếu phẩm tối cần thiết, chỉ giảm 7% so với những người bình thường.
Thế nhưng, nếu họ không nhận được trợ cấp thất nghiệp thì chi phí của họ cho những việc này sẽ giảm tới 22%. Trong điều kiện suy thoái kinh tế, khi số người thất nghiệp tăng đáng kể, tình hình như thế sẽ tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế. Orszag cho rằng, việc trả trợ cấp thất nghiệp một cách đàng hoàng có thể giúp duy trì vô số những công ty hoạt động trong tình trạng nguy cấp. Trong trường hợp ngược lại, suy thoái kinh tế sẽ càng trở nên tệ hại.
Trong một khoảng thời gian dài, nước Pháp đã đầu tư khá lớn vào việc xây dựng những công trình giao thông công cộng hiện đại nên giờ đây,
Tuy có những quan điểm khác nhau về mức độ cần thiết của các chi phí hành chính và đầu tư nhà nước, nhưng đại đa số các học giả đều cho rằng, quá nhiều hay quá ít trong chuyện này đều là dở. Theo nhà nghiên cứu người Mỹ Georgios Karras, tỉ lệ tối ưu của chương mục tài chính này là khoảng 23% GDP (cộng-trừ 2%). Trong những năm 80-90 của thế kỷ trước, mức độ tăng trưởng kinh tế có ấn tượng nhất là ở những quốc gia có các chi phí hành chính và đầu tư nhà nước ở mức xấp xỉ 20% như Hàn Quốc hay Singapore... Đài Loan cũng là nơi đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với mức chi phí hành chính và đầu tư nhà nước gần 20%.
Mỹ và châu Âu, vừa giống vừa khác
Thông thường các nước châu Âu thường được điều hành bởi hệ thống chính quyền đông đúc hơn nhiều so với Mỹ trên mọi cấp. Thêm vào đó, người châu Âu thường tiêu nhiều tiền hơn cho các chương trình xã hội khác nhau.
Tại Mỹ, những nguyên tắc chính trong mô hình vận hành nền kinh tế như sau:
- Chính phủ ủng hộ sự phát triển hạ tầng cơ sở và điều hòa các công trình thuộc hạ tầng cơ sở nằm trong tay tư nhân để đáp ứng những nhu cầu của xã hội.
- Chinh phủ hỗ trợ khoa học và giáo dục xã hội.
- Chính phủ khuyến khích cạnh tranh tự do, sử dụng một cách có chọn lọc cơ chế thuế để động viên tính tích cực trong sản xuất và chống đầu cơ.
- Chính sách bảo hộ mậu dịch.
Những người ủng hộ “mô hình Mỹ”, tức là giảm thiểu tác động của nhà nước tới nền kinh tế, đã đưa ra thí dụ sau để chứng minh là họ đúng. Theo số liệu của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), 15 quốc gia châu Âu (Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Italia, Luxemburg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh) sử dụng vào các chương trình nhà nước tới 47,6% GDP (tại Mỹ, tỉ lệ này là 35,7%) và 41% số tiền thuế thu được ở Mỹ: 28,9%). Kết cục là, nợ nước ngoài của các quốc gia châu Âu gần gấp đôi so với Mỹ. Chứng minh cho luận điểm này còn những ví dụ khác nữa.
Theo các nhà kinh tế học Thụy Điển Fredrik Bergstrom và Robert Gidehag trong công trình nghiên cứu Liên minh châu Âu chống lại Mỹ, năng suất lao động của Mỹ trong những năm 90 của thế kỷ trước cao hơn của “lục địa cũ” tới 40%. Trong 10 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ trung bình là 3,2%, còn ở châu Âu là 2,1%. Tại Mỹ, tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn nhiều so với châu Âu và mức sống ở Mỹ cũng cao hơn (chỉ có Luxemburg mới có mức sống xấp xỉ Mỹ).
Nhiều nước châu Âu, đi đầu là Đức, trong suốt giai đoạn hậu Chiến tranh thế giới thứ hai đã rất chú trọng tới việc thành lập khu vực kinh tế nhà nước. Nhiệm vụ chính của khu vực này là đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, giảm thiểu lạm phát và thất nghiệp, tạo điều kiện làm việc tốt và hệ thống an sinh xã hội tốt.
Các quốc gia châu Âu thường xuyên can thiệp vào quá trình kinh doanh, thí dụ như bảo hộ những ngành mà họ cho là quan trọng. Một trong những điểm khác nhau căn bản giữa châu Âu và Mỹ là cách nhìn vấn đề tiêu dùng. Châu Âu tiêu thụ ít hơn Mỹ nhưng bảo vệ nguồn lực tốt hơn.
Không phải ai cũng thích phát triển theo mô hình Mỹ. Có không ít học giả bảo vệ mô hình phát triển hướng về quyền lợi chung của xã hội. Theo họ, người châu Âu làm việc ít hơn người Mỹ và có nhiều ngày nghỉ hơn so với người Mỹ. Mức độ chênh lệch về lương bổng ở châu Âu cũng “hợp lý” hơn ở Mỹ. thí dụ, thí mức lương của lãnh đạo các công ty lớn tại Mỹ cao hơn lương của những người làm công bình thường tới 475 lần (!). Tỉ lệ này ở Anh là 24 lần, ở Pháp là 15 lần, ở Thụy Điển là 13 lần...
Cũng theo các học giả này, hiện nay năng suất lao động của người châu Âu trong thực tế đã ngang bằng so với Mỹ, thậm chí ở một số quốc gia như Hà Lan, Na Uy, Bỉ, Đức hay Luxemburg... còn cao hơn! Tại các nước châu Âu số lượng tù nhân ít hơn 8 lần so với Mỹ, tỉ lệ trẻ em chết cũng thấp hơn và chất lượng các trường công cũng tốt hơn...
Tư duy theo cách này, có thể thấy nếu chi phí và đầu tư của nhà nước vào xã hội cao thì cuối cùng vẫn đạt được mức độ phát triển cần thiết của nền kinh tế. Tuy nhiên, vẫn cần nhắc lại là mỗi quốc gia phải tự cân đối ngân sách của mình để các chương trình xã hội không trở thành gánh nặng quá sức. Nếu điều hòa tốt được giữa hệ thống an sinh và sử dụng tốt các đòn bẩy kinh tế, có thể vừa hoàn thành các nhiệm vụ nhân văn, vừa giữ cho xã hội một tinh thần cạnh tranh lành mạnh để phát triển