Ông là Nguyễn Bá Lợi, một chiến sĩ điệp báo, nguyên Phó ty Công an tỉnh Hà Nam, nguyên Phó ty Công an tỉnh Vĩnh Phúc, một cán bộ An ninh T4 khu Sài Gòn - Gia Định đã anh dũng hy sinh ở chiến trường miền Nam. Sau gần bốn mươi năm xa cách, hài cốt ông đã được đưa về với đất mẹ xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà
Nhớ về tuổi thơ
Một ngày cuối năm, những tia nắng vàng hanh hao trải rộng trên những con đường nhỏ ở phố huyện Lý Nhân. Tôi ngồi cùng Thượng tá Nguyễn Nam Phong trong một quán nhỏ ven đường với những câu chuyện cũ mới đan xen. Lần nào cũng vậy, cứ nói về người cha thân yêu là mắt anh lại ngấn lệ, giọng nghẹn ngào. Cho dù nay tóc anh đã điểm bạc, tiếp nối sự nghiệp của cha và làm tròn trách nhiệm thay cha và anh trai đã hy sinh để chăm sóc mẹ già và nuôi dạy các em trưởng thành khôn lớn.
Dường như, cứ nói về cha, anh lại thấy mình vẫn như một đứa con nhỏ luôn cần bàn tay ấm áp của cha để khỏi chơi vơi… Những ký ức ngày xưa cứ dội về trong nỗi niềm xúc động nghẹn ngào. Anh Phong đưa tôi xem cuốn hồi ký anh viết về cha mình dày cộp. Liệt sĩ Nguyễn Bá Lợi sinh ra và lớn lên ở làng quê nghèo ven dòng sông Đáy hiền hòa, mồ côi cha khi còn nằm trong bụng mẹ. Khi còn là cậu bé đánh giày tha hương đã chứng kiến cảnh binh đao trên quê hương xứ sở.
Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Bá Lợi đã xung phong vào đội thanh niên cứu quốc, bảo vệ chính quyền cách mạng. Năm 1945, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Bá Lợi đã trở thành đảng viên Cộng sản, là chiến sĩ Công an, Đội trưởng điệp báo phụ trách địa bàn Bình Lục - Lý Nhân.
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông là Trưởng Ban bảo vệ chính trị, Phó Trưởng ty Công an tỉnh Hà Nam, đã chỉ đạo và phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ phá nhiều vụ án gián điệp, phản động, bắt nhiều đối tượng ngụy quân ngụy quyền, đảng phái phản động, giáo dục cải tà quy chính. Cuối năm 1965, ông được điều động làm Phó ty Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 10/1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang vào giai đoạn quyết liệt, ông tình nguyện vào chiến trường miền
Anh Phong nghẹn ngào kể lại, đêm ấy ông về, sửa lại ngôi nhà cho vợ con vừa bị bom Mỹ đánh sập, thăm hỏi những người thân yêu và bà con chòm xóm. Con gái út mới 3 tuổi không rời cha nửa bước, ông hôn lên má con mà mắt đỏ hoe. Sau bữa cơm tối, ông ngập ngừng nói với vợ: "Đêm nay anh sẽ đi B, lát nữa có xe tới đón". Mẹ tôi ngồi lặng lẽ bên cha mà rơi từng giọt lệ. Nửa đêm tiễn cha ra đến đầu đường cái thì có xe ôtô cài đầy lá ngụy trang đỗ lại, cha bước lên xe và những cái vẫy tay cứ xa dần… Có ngờ đâu rằng, đó lại là giây phút biệt ly mãi mãi.
Kể từ ngày ấy, bao nhiêu vất vả lo toan đổ dồn cả lên đôi vai gầy của mẹ, 6 đứa con (lớn 16 tuổi, bé 3 tuổi), gánh nặng bao nhiêu mẹ cũng gồng mình chịu đựng và đêm ngày cầu mong cho cha đi chân cứng đá mềm. Cứ mỗi lần nhận được thư cha là cả nhà như có hội.
Lá thư đề ngày 10/9/1969, cha viết: "Chúc mẹ con cùng mọi người luôn mạnh khỏe, sản xuất nhiều lương thực, góp phần đánh thắng giặc Mỹ để Nam - Bắc thống nhất, vợ chồng cha con sum họp…". Đọc thư, tôi ước gì ngày đó chóng đến. Thế rồi thư cha cứ thưa dần, thưa dần rồi tắt lịm. Ban ngày, mẹ bận bịu với công tác xã hội (lúc ấy bà là đại biểu HĐND tỉnh Hà
Anh Phong nhớ lại. Buổi chiều hôm ấy là buổi chiều đau buồn nhất của tuổi thơ tôi. Khi ba mẹ con vừa gánh củi ra khỏi bìa rừng thì trời đã nhá nhem tối, chuẩn bị bước xuống phà qua sông về nhà thì có người nói: "Ông Lợi hy sinh rồi". Tai ù đặc, vứt phịch gánh củi xuống chân, tôi lao như điên như dại về nhà. Cả nhà đã chật ních người, ai đó bảo là cán bộ từ Trung ương và tỉnh về báo tử bố tôi. Nhìn thấy các em đang ôm nhau khóc, đầu chít khăn tang thì tôi cũng quỳ sụp xuống đó không khóc thành tiếng. Vậy là từ nay trở đi tôi và các em sẽ là những đứa trẻ mồ côi cha, cứ nghĩ đến đó mà lòng tôi đau nhói… Nỗi buồn đau về sự hy sinh của cha chưa nguôi ngoai thì tin sét đánh lại tiếp nối, anh trai Nguyễn Quốc Hải của tôi cũng hy sinh năm 1970 ở mặt trận phía Nam.
Ngày giải phóng miền
Con đi tìm cha
Dẫu biết rằng cha tôi đã hy sinh cho Tổ quốc được bình yên, nhưng mẹ tôi luôn đau đáu trong lòng rằng không biết mộ cha nằm ở nơi nào, có ai hương khói cho ông. Lúc tuổi đã cao, bà chỉ mong tìm được phần mộ và đưa hài cốt chồng về nơi chôn nhau cắt rốn với tổ tiên thì bà mới yên lòng.
Nhưng rồi, phải đợi đến năm 1995, trong ngày kỷ niệm miền Nam giải phóng, Bộ Công an tổ chức gặp mặt các cán bộ Công an miền Bắc chi viện cho Trung ương Cục miền Nam tại Tây Ninh thì anh Phong mới có cơ hội. Nhân dịp này, anh Phong đã nhờ một cán bộ từng bảo vệ Trung ương Cục báo cáo với Ban tổ chức, thông báo đặc điểm nhân dạng của liệt sĩ Nguyễn Bá Lợi để các đồng đội từng công tác chiến đấu với ông biết được hiện phần mộ của ông nằm ở nơi nào. Dường như linh hồn của liệt sĩ Nguyễn Bá Lợi sống khôn thác thiêng nên đã giúp con trai báo hiếu mẹ mình.
Thật may mắn và bất ngờ, có một người biết liệt sĩ Nguyễn Bá Lợi, đó là Thiếu tá Đặng Văn Điện, nguyên thư ký của đồng chí Nguyễn Tài, Trưởng Ban An ninh T4, quê ông ở Phú Thọ. Anh Phong như trút được nỗi niềm trĩu nặng. "Tôi được biết rằng, năm 1967, đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Công an vào miền
Khoảng 8h ngày 11/2/1970, đại đội biệt kích ngụy chủ yếu là số chiêu hồi đã bất ngờ tập kích vào căn cứ. Phát hiện đã bị lộ, ông vừa kịp đẩy nắp hầm để y tá Hồng chạy thoát, ông ở lại chiến đấu và đánh lạc hướng chúng thì bọn địch ập tới. Chúng bắn vào hầm, cha tôi và 7 cán bộ An ninh T4 đã hy sinh, được nhân dân an táng tại ấp 3, xã Phước Thạnh".
Hành trình đi tìm mộ chí của người cha thân yêu cũng đầy rẫy gian nan vất vả. Khi biết năm 1985, Công an TP HCM đã quy tập cả 7 liệt sĩ An ninh T4 về nghĩa trang thành phố, trong đó có liệt sĩ Nguyễn Bá Lợi. Tìm tới đó, cả 6 liệt sĩ kia đều đúng họ tên quê quán, nhưng khi anh tìm tới vị trí mà cha anh mách bảo thì đó là tên của một liệt sĩ mang tên Huỳnh Văn Lợi, quê ở Hóc Môn, TP HCM. Được sự giúp đỡ chu đáo tận tình của Bộ Công an và các đồng đội của ông nên ngôi mộ đó được xác định là của liệt sĩ Nguyễn Bá Lợi. Vậy là sau hơn 30 năm ông mới được trả lại tên tuổi cho mình.
Năm 2003, gia đình và bạn bè đã đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Bá Lợi về quê hương sau gần 40 năm xa cách. Tấm gương sáng của liệt sĩ Công an Nguyễn Bá Lợi cả một đời hy sinh vì nước vì dân vẫn còn sống mãi, Tổ quốc đã ghi công và tặng thưởng 5 Huân chương cao quý