Theo Hãng tin AP, 9 phụ nữ nêu trên đều trong độ tuổi 30 và đều có những vấn đề khiếm khuyết ở cơ quan sinh dục, chẳng hạn như không có tử cung ngay từ khi chào đời, tử cung nhi hóa (nghĩa là chỉ như một đứa bé 6 tuổi). Cũng có người tử cung đã bị cắt bỏ vì bệnh ung thư, hoặc cắt bỏ do có nhiều nhân xơ lớn.
Tiến sĩ Mats Brannstrom, Chủ nhiệm bộ môn Sản phụ khoa thuộc Đại học Y khoa Gothenburg, đồng thời cũng là trưởng nhóm phẫu thuật, nói: "Chúng tôi tin rằng đây là một bước tiến mới của ngành sản phụ khoa vì đến nay, chưa ai thành công trong lĩnh vực này".
Vẫn theo Hãng tin AP, vào tháng 2/2014, tiến sĩ Mats Brannstrom cùng các đồng nghiệp sẽ tiến hành tổ chức một hội thảo nhằm giới thiệu những kinh nghiệm về cấy ghép tử cung, đồng thời sẽ cho xuất bản một báo cáo khoa học về quy trình thực hiện phẫu thuật.
Trong tất cả 9 ca cấy ghép, người hiến tặng tử cung là mẹ, người thân của bệnh nhân nhưng danh tính của họ không được tiết lộ. Theo phát ngôn viên của Trường đại học Y khoa Gothenburg, ban đầu ê kíp phẫu thuật dự định sẽ ghép cho 10 người nhưng sau cùng, có 1 người bị loại vì không đạt yêu cầu về những chỉ tiêu y tế.
Bà Lise Gimre, 35 tuổi, sinh ra không có tử cung, sau khi được cấy ghép đã cho biết: "Trước đây, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng đến một ngày nào đó tôi lại có thể thực hiện thiên chức làm mẹ. Khi chưa được cấy ghép, tôi đã xin 2 đứa con nuôi và tôi đã từng nghĩ đến việc nhờ người mang thai giúp mình mặc dù điều này là bất hợp pháp ở châu Âu - trong đó có Thụy Điển. Bây giờ, những phụ nữ rơi vào hoàn cảnh như tôi sẽ có quyền hy vọng".
Ý tưởng cấy ghép tử cung bắt đầu xuất hiện vào năm 1998, khi tiến sĩ Mats Brannstrom cắt bỏ tử cung cho một phụ nữ trẻ bị ung thư. Người phụ nữ này sau đó đã hỏi ông: "Tại sao bác sĩ không ghép tử cung của mẹ tôi cho tôi để tôi có thể sinh con đẻ cái như một người bình thường?".
Tiến sĩ Mats Brannstrom cho biết: "Từ lời đề nghị ấy, năm 1999, chúng tôi bắt đầu nghiên cứu bằng cách ghép tử cung trên chuột lang. Sau khi thành công, trong 13 năm tiếp theo, tôi cùng các cộng sự tiếp tục thực hiện trên một số loài động vật khác như cừu và khỉ đầu chó".
Quy trình cấy ghép tử cung được tiến hành bằng cách cắt lấy tử cung của người hiến tặng thông qua một vết mổ ở bụng. Sau khi tách ra, các mạch máu nối với tử cung được rửa sạch rồi sau đó, tử cung được đưa vào cơ thể người nhận. Điều khó khăn ở đây là việc cấy ghép phải làm thế nào để tất cả các mạch máu, thần kinh, ống dẫn trứng hoạt động bình thường vì sau này khi có thai, nhau thai phải bám được vào thành tử cung rồi khi chuyển dạ, tử cung phải tự co bóp để đẩy thai ra. Điều đặc biệt nhất là việc cấy ghép không phân biệt tử cung của người hiến tặng là người còn trẻ hay đã mãn kinh.
Tiến sĩ Mats Brannstrom nói: "9 ca phẫu thuật cấy ghép mà chúng tôi thực hiện cho thấy chỉ từ 20 đến 40 phút, các mạch máu và thần kinh ở tử cung đã hoạt động bình thường trở lại. Kiểm tra vòi trứng với tử cung, nó thông suốt".
Hiện tại, 9 phụ nữ được cấy ghép tử cung đều trong tình trạng khỏe mạnh, và có người đã có kinh nguyệt. Theo tiến sĩ Mats Brannstrom, tất cả sẽ được xuất viện trong vài ngày tới. Và cũng như những phẫu thuật cấy ghép các cơ quan nội tạng khác, 9 phụ nữ được ghép tử cung sẽ phải dùng thuốc chống thải ghép.
Theo tiến sĩ Richard Smith, người đứng đầu Tổ chức Từ thiện ghép tử cung ở Anh Quốc, thì: "Mối quan tâm chính của tôi là nếu họ có thai, thai nhi có nhận được đủ chất dinh dưỡng từ nhau thai hay không vì qua theo dõi những người đã ghép thận, tôi chưa thấy có một bằng chứng nào chứng tỏ thuốc chống thải ghép ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai".
Trong cơ thể người, tử cung cùng với vòi trứng, buồng trứng là cơ quan có nhiệm vụ sinh sản. Nó nằm giữa bàng quang và trực tràng, có hình quả lê dốc ngược, phần trên lồi to gọi là đáy tử cung, phần dưới nhỏ, dài, gọi là cổ tử cung. Cổ tử cung thò vào âm đạo còn đáy tử cung kết nối với hai ống dẫn trứng. Trong quá trình mang thai, thai nhi phát triển trong tử cung và được nuôi bằng chất dinh dưỡng từ người mẹ thông qua nhau thai.
Trên thế giới, việc cấy ghép một số bộ phận trong cơ thể như gan, thận, võng mạc, tim, tay, chân đã trở thành bình thường nhưng cấy ghép tử cung lại tạo ra một mối quan tâm đặc biệt. Ở nhiều nước châu Âu, luật chưa cho phép cấy ghép tử cung một cách rộng rãi, mà chỉ cho phép tạm thời nhằm mục đích để người phụ nữ có thể có một đứa con bởi lẽ theo nhiều chuyên gia, việc cho phép rộng rãi có liên quan đến vấn đề đạo đức.
Sir Howard Stevenson thuộc Ủy ban Sinh học châu Âu, nói: "Khác với ghép thận, ghép gan, người hiến tặng vẫn có thể sống, làm việc bình thường vì quả thận còn lại sẽ đảm nhận nhiệm vụ thay cho quả thận đã bị mất, hoặc mảnh gan bị cắt sẽ phát triển trở lại sau vài tháng. Tuy nhiên, khi hiến tặng tử cung thì cơ thể không bao giờ có thể tái tạo, và điều này đồng nghĩa với việc nếu một phụ nữ tìm lại được khả năng sinh đẻ thì một phụ nữ khác sẽ phải chịu cảnh vô sinh đến suốt đời, chưa kể việc bóc tách phần lớn mạch máu tử cung có thể gây nguy hiểm cho người hiến tặng".
Tuy nhiên, theo tiến sĩ John Harris, một chuyên gia về đạo đức sinh học tại Đại học Manchester, thì: "Không có vấn đề gì miễn là người hiến tặng được thông báo đầy đủ về những hệ quả có thể xảy ra, và khi họ chấp nhận những hệ quả đó thì các bác sĩ có quyền tiến hành phẫu thuật cấy ghép".
Trước đó, vào năm 2000, đã có 2 ca cấy ghép tử cung được thực hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ và Arập Xêút nhưng cả hai đều thất bại. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tử cung dùng cho việc cấy ghép được lấy từ một người sắp chết, tình nguyện hiến tặng, nhưng sau khi ghép, giữa tử cung và ống dẫn trứng không kết nối được với nhau; còn tại Arập Xêút, 2 tháng sau khi cấy ghép, các bác sĩ đã phải lấy tử cung ra vì xuất hiện cục máu đông, có nguy cơ gây tử vong cho người được ghép.
Tại Anh, Hungary cùng một số quốc gia khác, những nhà y học cũng có những kế hoạch cấy ghép tử cung nhưng sau thành công của tiến sĩ Mats Brannstrom, họ nhìn nhận rằng đây là phương pháp tiên tiến nhất.
Theo tiến sĩ Brannstrom, ông và các đồng nghiệp hy vọng 9 phụ nữ này sẽ có thai trong vài tháng tới. Bác sĩ Michael Olausson, một thành viên trong nhóm phẫu thuật cấy ghép, cho biết: "Chúng tôi sẽ không gọi nó là thành công hoàn toàn cho đến khi họ mang thai. Đó là bằng chứng tốt nhất vì về mặt lý thuyết, vẫn còn nguy cơ thải ghép".
Tiến sĩ Scott Nelson, Chủ nhiệm bộ môn Sản phụ khoa tại Đại học Glasgow, Scotland, nói: "Không còn nghi ngờ gì nữa. Đây là một bước tiên phong vì nếu không được ghép tử cung thì sự lựa chọn duy nhất cho 9 người phụ nữ này là nhờ người khác mang thai hộ" nhưng bên cạnh đó, ông cũng cảnh báo cơ hội mang thai của người được cấy ghép tử cung có thể thấp hơn người khác, nguy cơ đối với thai kỳ, bao gồm nhau thai phát triển không bình thường, thai nhi phát triển không đúng cách hoặc sinh non bởi lẽ tử cung hiến tặng không có đủ tất cả các mạch máu mà nó đã có ban đầu