Năm 1985, khi bức "Phong cảnh biển" của William Turner được bán với giá 14 triệu USD, người ta đã vội vàng quả quyết đấy là "bức tranh đắt nhất của mọi thời". Nhưng chỉ một năm sau, "Cánh đồng hoa diên vĩ" của Van Gogh đã vượt quá 15 triệu USD.
Kế tiếp là những "kỷ lục ngất ngưởng" khác cũng của Van Gogh: "Hoa hướng dương" được bán hôm 30/3/1987 nhân dịp 134 năm ngày sinh của nhà đại danh họa, với giá 40 triệu USD cho Hãng Bảo hiểm Yasuda của người Nhật; và "Cánh đồng hoa diên vĩ" với giá 54 triệu USD trong tháng 11 cùng năm.
Ở Hoa Kỳ, giới đầu tư ngày càng nhận ra rằng, việc mua các tác phẩm nghệ thuật giống như một "trò chơi", mang đến không chỉ sự hài lòng cùng tính giải trí, mà còn là những khoản lời lớn lao đầy hứa hẹn nữa. Các ngân hàng Mỹ đã khẳng định thực trạng này, họ có các chuyên viên trong biên chế về đầu tư nghệ thuật, với nhiệm vụ giúp đỡ khách hàng tiếp cận với những sản phẩm sinh lời rất cao.
Tình hình ở châu Âu cũng tương tự như bên Mỹ, nhưng người ta thiên về việc buôn tranh của các tác giả hiện đại nhiều hơn. Tuy rằng không phải bất cứ bức tranh nào cũng đều "có giá" cả. Nhưng hiển nhiên là nền nghệ thuật hiện đại đã được đầu tư thích đáng, chỉ cần người ta biết theo đuổi hợp với thực trạng buôn tranh bây giờ.
Ví như tại các cuộc triển lãm nghệ thuật mang tầm vóc quốc tế như ở Basel (Thụy Sĩ), Cologne (Đức), hay tại Paris (Pháp) chẳng hạn, nơi giới chủ các gallery và giới buôn tranh kỳ cựu thường là những cố vấn trong lĩnh vực đầu tư tiền bạc vào các bức họa.
Tương tự như với trái phiếu, việc quan trọng nhất khi quyết định mua các tác phẩm nghệ thuật là phải biết chọn đúng thời điểm thích hợp. Những ai quá vội vã, dễ đưa đến thất bại, nhưng với những ai quá chần chừ, thường phải mua với giá cao.Tranh của các họa sĩ thường có tên trong những cuộc triển lãm quốc tế uy tín nhất, cũng như được trưng bày tại các bảo tàng nổi tiếng nhất luôn có giá tăng vọt.
Bức sơn dầu của Emil Sumahel, "Hẻm núi", vẽ năm 1955, với kích thước 80 x 60cm, từng được bán với giá tương đương 50USD trong thập niên 60. Trước đây nửa năm, tại một cuộc bán đấu giá, "Hẻm núi" đã được chủ nhân mới mua với giá 100 ngàn euro.
Lẽ dĩ nhiên, những nhà sưu tập tư nhân có khả năng và sẵn sàng chi trả những khoản tiền lớn thường rất hiếm hoi. "Tôi không bao giờ chịu trả những khoản lớn như thế - nhà tạo mẫu W.Kneht khẳng định - Với giá cả bây giờ, tôi cũng chẳng dám "mua lại" kiệt tác của Andy Warhol nữa". Hiện W.Kneht lưu tâm tới các tác giả trẻ: ông chi vài ngàn euro cho bức tranh người hoặc phong cảnh nào đó mà ông thích.
Nhiều ông chủ của các phòng tranh mà xã hội coi là những "con cáo già" lại thường kiếm được rất ít từ "nền nghệ thuật trẻ". Nếu như họ không buôn bán với các tác phẩm có giá đã được công nhận, thì họ phá sản từ lâu rồi. Đương nhiên, họ cũng biết cách "mai phục" đợi đến khi sản phẩm của một tác giả nào đó bắt đầu "có giá". Chính nhờ tính kiên trì này mà họ đã thành công trong việc thuyết phục các nhà sưu tập đầu tư vào các bức họa chưa có tiếng và một khi giới sưu tập lưu tâm săn lùng, thì mặc nhiên giá cả của các tác phẩm này tăng theo thời gian.
Vậy việc đầu tư tranh có đúng là sinh lợi hơn việc đầu tư vào các lĩnh vực khác không? Hay là tranh và tượng chỉ nên mua bởi những người thực sự có khiếu thẩm mỹ mà thôi? Thật không dễ để trả lời các câu hỏi trên được.
Trong ấn phẩm dày tập “Tính kinh tế của sự thưởng thức”, học giả Gerhald Raitlinger đã lần theo con đường của việc bán đấu giá các bức tranh đắt tiền trong vài thế kỷ trở lại đây và đã đề cập tới các bức họa của 700 họa sĩ nổi tiếng. Đây là những tác phẩm được nhìn trước hết dưới con mắt tài chính thuần túy, luôn sinh lời cho giới đấu giá và cũng là những bức tranh đang được lùng kiếm nhiều nhất hiện nay.
William Baumol, Giáo sư môn kinh tế học thuộc Đại học Tổng hợp New York, cũng từng là một họa sĩ thành đạt, đã dựa vào các thông tin của G.Raitlinger để nghiên cứu sự thay đổi về giá cả của nhiều bức tranh trong giai đoạn từ năm 1652 đến 1990 - những bức tranh tiêu biểu đã được mua đi bán lại ít nhất là hai lần.
Giá cả của gần 700 vụ mua bán được xếp chung vào một bảng so sánh, cho thấy mức lãi thực tế của việc đầu tư tranh là chừng 0,6% mỗi năm. Còn nhà kinh tế học John Stein tính rằng: những bức tranh trong các cuộc bán đấu giá tại Anh và Mỹ trong thời kỳ từ năm 1946 đến 1988 luôn có giá trị tăng, với mức lãi ròng cỡ 10,5% mỗi năm. Trong khi thị trường cổ phiếu của cùng thời kỳ tương ứng lại có mức lời tới 14,3% một năm.
Đương nhiên, một điều ai cũng nhận thấy, những thống kê so sánh trên liên quan mật thiết với quá khứ, còn trong vòng hai thập niên gần đây, việc mua tranh lại hứa hẹn một khoản lời thích đáng. Tuy có lời thật đấy, nhưng việc đầu tư vào tranh nghệ thuật vẫn là một công việc liều lĩnh, không chỉ trong những thế kỷ trước, mà bây giờ cũng vậy.
Từ tất cả những điều trên, chúng ta có thể rút ra hai kết luận: sự xê dịch giá cả của tranh nghệ thuật không thể đoán trước được. Bất chấp những hiểu biết nhà nghề của mình, các chuyên gia cũng không thể "nắm bắt" thị trường tranh nhanh nhạy hơn là công chúng yêu nghệ thuật đích thực; sự luôn thay đổi "mốt - sở thích" trong các sáng tạo nghệ thuật và ảnh hưởng của công chúng lên giá cả các bức tranh, thì ngay cả những người "sành sỏi" nhất cũng không thể biết trước được.
Những sự kiện trên có thể nói lên được điều gì? Rằng chớ mơ hồ khi bạn cứ tâm niệm là buôn tranh nghệ thuật lúc nào cũng có lời cao. Nhưng chẳng nhẽ chúng ta sẽ đoạn tuyệt với việc mua tranh ư? Không bao giờ! Nghệ thuật cần phải mang lại niềm vui đích thực cho những ai yêu thích nó. Nghệ thuật là dành cho những người ưa sưu tập vì lòng yêu nghệ thuật chân chính, luôn trân trọng mỗi bức tranh dù dưới bất cứ giá nào