Trước đó, trong một cuộc giao ban tại Đà Nẵng, lãnh đạo Bộ GD&ĐT vẫn khẳng định Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020”, gọi tắt là Đề án Ngoại ngữ Quốc gia, đã đề ra mục tiêu biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi lên con đường hội nhập là mục tiêu chiến lược. Loay hoay và lúng túng, đó là trạng thái tâm lý của nhiều giáo viên và học sinh ở thời điểm hiện tại.
Vừa chạy vừa xếp hàng, làm thế nào đây?
Đã có những hàng tít báo một cách hình tượng như vậy về hiện trạng của đề án có tầm chiến lược quốc gia này, và thực tình thì đó chính là băn khoăn của chính người lãnh đạo cao cấp nhất của ngành giáo dục.
Phát biểu tại một hội nghị giao ban công tác triển khai Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 mới đây, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận đã nhận xét một số vấn đề còn băn khoăn, rằng trong quá trình vận hành đề án, nhiều địa phương còn lúng túng trong chuẩn bị thiết bị giảng dạy cũng như bồi dưỡng giáo viên đạt chuẩn. Có nơi giáo viên đạt chuẩn thì không có thiết bị giảng dạy. Có nơi trang thiết bị sắm đủ thì giáo viên lại chưa biết sử dụng được nên lãng phí, hiệu quả truyền đạt tới học sinh vì thế chưa cao…
Tuy nhiên, không phải chỉ đến khi vị “tư lệnh” ngành giáo dục có ý kiến người ta mới thấy được có những tồn tại, bất cập trong quá trình thực hiện đề án này. Nhìn lại mục tiêu ban đầu của nó, theo phê duyệt, rất rõ ràng: Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một trong những cụ thể của đề án chiến lược này, đó là triển khai thực hiện chương trình giáo dục 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông. Từ năm 2010 – 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới cho khoảng 20% số lượng học sinh lớp 3 và mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học 2015 – 2016; đạt 100% vào năm 2018 – 2019.
Để theo đuổi mục tiêu này, các chuyên gia ngành giáo dục cho rằng đề án sẽ liên quan đến nhiều địa phương, nhiều bộ ngành và trực tiếp đến gần 80 nghìn giáo viên và hơn 20 triệu học sinh, sinh viên được cho là sẽ hưởng thụ kết quả và tác động của đề án trong vòng 10 năm.
Mục tiêu thì như vậy, nhưng cho đến thời điểm này, nhiều cán bộ trực tiếp giảng dạy và chuyên gia trong ngành đều tỏ thái độ hoài nghi đối với kết quả trong thực tế. Hoài nghi cả về tiến độ, hoài nghi cả về nguồn nhân lực. Và, góc nhìn đầu tiên đánh dấu sự chưa chuẩn của một vấn đề, nằm ngay ở sự đánh giá về quá trình thụ hưởng thành quả giáo dục của đề án. Quá trình này hoàn toàn không thể chỉ là một phép cộng cơ học để ra được con số 10 năm đơn giản như vậy. Một kết quả học tập, một thành quả giáo dục được hưởng của một con người trong giai đoạn đi học đầu đời, sẽ gắn theo người ấy cho đến hết đời. Như một nhà giáo lão thành đã từng nói, những sai lầm trong giáo dục, dù có thể chưa thấy hậu quả ngay, nhưng bao giờ cũng gây những tác động nhất định về lâu về dài.
Đối với các lĩnh vực khác, sai lầm có thể thật tai hại, rất lớn, nhưng chỉ là tại thời điểm ấy, tại giây phút ấy. Nhưng còn với sai lầm trong giáo dục, đặc biệt là trong một chính sách, thì nó có thể ảnh hưởng tới không chỉ một, mà nhiều thế hệ liên tiếp, và công cuộc khắc phục những sai lầm (nếu có) ấy sẽ chỉ có thể bắt đầu từ... thế hệ sau đó! Cải cách chữ viết là một ví dụ.
Nói cách khác, người ta chỉ sống có một lần, giai đoạn tuổi trẻ, học tập cũng chỉ một giai đoạn nhất định của cuộc đời, ai có hai lần để mà rút kinh nghiệm? Vì vậy, với một đề án có tầm chiến lược, tác động sâu rộng tới ngần ấy đối tượng, ngần ấy cuộc đời, việc đánh giá đúng tầm mức của vấn đề cần phải được coi là cực kỳ quan trọng. Nếu không thế, những loay hoay, luống cuống giữa dòng không chừng có thể làm trượt đi vài thế hệ, cả thầy và trò.--PageBreak--
Chạy đua “chuẩn giáo viên”
Một trong những khâu mấu chốt của đề án này, đó là kiện toàn một đội ngũ giáo viên đạt chuẩn. Muốn như thế thì phải tiến hành việc rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ trong các cấp học, nhất là ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hằng năm và các giai đoạn đến năm 2010, năm 2020, phù hợp với các quy định, tiêu chí hiện hành.
Triển khai thực hiện các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng giáo viên ngoại ngữ các cấp học, nhằm bổ sung, chuẩn hóa về trình độ đào tạo đội ngũ theo quy định. Trong đó có cả việc mở các khóa bồi dưỡng, cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho những người đạt trình độ ngoại ngữ theo quy định mà có nguyện vọng được tuyển dụng làm giáo viên, giảng viên dạy ngoại ngữ.
Nhiệm vụ của đề án là phải xây dựng và ban hành khung trình độ năng lực ngoại ngữ thống nhất, chi tiết, gồm 6 bậc, tương thích với các bậc trình độ ngoại ngữ quốc tế thông dụng để làm căn cứ biên soạn chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy và xây dựng tiêu chí đánh giá ở từng cấp học, trình độ đào tạo, bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấp học. Khung trình độ năng lực ngoại ngữ cần xác định rõ yêu cầu về trình độ, năng lực nghe, nói, đọc, viết tương thích với các tiêu chí xác định 6 bậc do Hiệp hội Các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành, trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6 là bậc cao nhất.
Công việc cần thực hiện là vậy. Bởi thế, cũng trong hội nghị giao ban, con số 75% giáo viên tiểu học và 90% giáo viên THPT chưa đạt chuẩn qua báo cáo của 42 tỉnh, thành do Phó trưởng ban thường trực đề án Vũ Thị Tú Anh công bố khiến không ít người tỏ vẻ quan ngại.
Yếu tố con người vốn vẫn nan giải. Giáo viên ngoại ngữ trẻ, hội tụ các điều kiện để đạt chuẩn thì còn phải lo bươn chải tìm chỗ đứng, trong khi phần đông giáo viên đã có tuổi, lâu năm trong nghề, quen với phương thức truyền đạt thụ động cũ thì lại không dễ gì ăn nhập với phương thức mới. Xưa nay vẫn “thầy già, con hát trẻ”, nhưng đối với giáo viên ngoại ngữ, bao năm qua vốn liếng chỉ dựa trên nền tảng cũ cộng với sự lạc hậu trong thích nghi công nghệ mới, thì tuổi tác lại là một hạn chế. Tiếc thay, lực lượng này lại chiếm số đông. Và đây là một thực tế không dễ gì giải quyết được trong một sớm chiều.
Ngoài ra, còn một vấn đề thuộc về bản chất của đào tạo, đó là sự hướng nghiệp. Học sinh nào, gia đình nào quan tâm tới hướng nghiệp, tới tương lai con em mình thì có thể nói đề án hay không đề án cũng chẳng ảnh hưởng gì. Họ học ngoại ngữ có mục đích hẳn hoi. Và một khi có mục đích rõ ràng thì động lực cũng mạnh hơn. Nhưng với phần còn lại, câu chuyện nực cười bắt đầu diễn ra: Học sinh cười khẩy ngồi xem giáo viên ngoại ngữ của mình quay cuồng với chuẩn giáo viên.
Cho điểm kém để răn đe thì không phải lúc nào cũng được, vì ảnh hưởng tới chỉ tiêu, thành tích chung của trường, của lớp, của bộ môn. Cho điểm cao thì đương nhiên là điểm giả, điểm thành tích thế thôi, mong gì đến chuyện giao tiếp tự tin với người nước ngoài bằng ngôn ngữ của họ?
Học kiểu ứng thí: Có thi thì mới học!
TS Lê Thị Chính, nguyên Hiệu trưởng Trường Chuyên Ngoại ngữ, hiện là thành viên Hội đồng sáng lập Trường THCS & THPT Phạm Văn Đồng cho rằng không thể phủ nhận cơ chế thi ngoại ngữ hiện nay có nhiều bất cập. Từng là quản lý trong môi trường chuyên về ngoại ngữ, cô Chính cho rằng với cách thi cũ, học sinh các trường ngoài rất dễ đạt điểm trung bình, điểm đạt 5 hay 6 mà chẳng biết lấy một chữ.
“Cháu tôi học ở Tuyên Quang. Thi tốt nghiệp được 8 điểm mà xuống đây thi đại học được nửa điểm. Như thế để thấy, điểm thi và cách thi tốt nghiệp hiện nay không phản ánh được thực tế tình hình học tập của các em”, cô Chính nói.
Tuy nhiên, trong dòng phân tích của mình, cô Chính cho rằng việc bỏ ngoại ngữ như một môn thi tốt nghiệp bắt buộc lại cũng cần phải được nghiên cứu cho thật kỹ. Đã đành nếu tổ chức thi như cũ thì lại vướng vào thi đua, thành tích, chạy theo kết quả. Chẳng có đơn vị nào muốn để cho học sinh của mình bị điểm kém khiến cho thành tích giảng dạy, tỷ lệ tốt nghiệp bị kéo xuống. Nhưng thi mà còn thế này, nếu không thi thì chắc học sinh bỏ học ngoại ngữ luôn?
Xưa nay, cảnh chung là học ứng thí, có thi thì mới học, không thi thì không học. Thi tốt nghiệp xong, phao thi trắng sân trường, ấy là chữ thầy trả thầy. Còn như ngoại ngữ là môn đặc biệt, không học thì có cho mở tài liệu ra cũng không biết chép ở đâu. Thế nên có thi, có học vẫn hơn...
Sáng 13/2/2014, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học 2013 – 2014, Bộ GD&ĐT đã thông báo, kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay sẽ diễn ra trong các ngày từ 2 đến 4-6 với 4 môn thi gồm 2 môn bắt buộc là Toán và Ngữ văn. 2 môn tự chọn trong số các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý và Lịch sử. Ngoại ngữ sẽ là môn tự chọn nằm ngoài 4 môn trên, thí sinh được khuyến khích đăng ký thi để cộng điểm. Điểm khuyến khích được tính như sau: Bài thi môn ngoại ngữ được 9 điểm trở lên được cộng 2 điểm. 7 điểm trở lên được cộng 1,5 điểm và 5 điểm trở lên được cộng 1 điểm.
Ngoài các thí sinh được miễn thi theo Quy chế hiện hành, học sinh THPT và Giáo dục thường xuyên xếp loại học lực và hạnh kiểm trong 3 năm từ khá trở lên, trong đó tập trung chính vào kết quả học tập năm lớp 12 và đoạt giải thưởng cấp thành phố trở lên sẽ được xét miễn thi. Tỷ lệ miễn thi cho mỗi Sở GD&ĐT và Cục Nhà trường tối đa là 20%.
Nếu hiểu việc dừng thi ngoại ngữ như một môn thi tốt nghiệp bắt buộc trong thời điểm hiện nay như một bước lùi, lùi một bước để tiến ba bước, lùi để đánh giá lại thực trạng thi và học đối phó hiện nay, lùi lại để nhìn rõ đường đi đến đích hơn, thì xin gửi lời an ủi tới các thầy cô giáo viên ngoại ngữ đang còn đầy tâm huyết với nghề rằng mọi thứ đang còn ở phía trước! Còn với các em học sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay, cố gắng đừng để mình chính là bước lùi ấy