Theo đó, khi giao kết hợp đồng, nếu là thuê bao cá nhân thì có trách nhiệm cung cấp cho doanh nghiệp viễn thông các thông tin như họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; số, ngày cấp, nơi cấp CMND đối với người có quốc tịch Việt Nam hoặc hộ chiếu đối với người có quốc tịch nước ngoài.
Đối với thuê bao là tổ chức, khi giao kết hợp đồng thì thuê bao viễn thông đó có trách nhiệm cung cấp cho doanh nghiệp viễn thông các thông tin như tên tổ chức; địa chỉ hoạt động; số, ngày quyết định thành lập; ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức; số CMND hoặc hộ chiếu của người đứng tên đại diện giao kết hợp đồng sử dụng dịch vụ viễn thông...
Bên cạnh đó, Nghị định cũng yêu cầu các chủ điểm đăng ký thông tin thuê bao phải đảm bảo đủ các điều kiện và có trách nhiệm lưu giữ thông tin thuê bao đã đăng ký theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi có yêu cầu.
Tuy nhiên, thông tin thuê bao chỉ được sử dụng cho các mục đích như phục vụ công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phục vụ công tác quản lý nhà nước về viễn thông; phục vụ hoạt động quản lý nghiệp vụ khai thác mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp viễn thông...