Phát biểu kết luận buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, công tác nghiên cứu khoa học cơ bản phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nhận thức, thể chế, cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện và phương thức vận hành để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia của Việt Nam trong thế kỷ 21.
Điểm mặt những “điểm nghẽn”
GS.TS. Trần Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam khẳng định rằng, Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị đã xác định KH,CN&ĐMST cùng với chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại.
Dù tiềm năng đổi mới sáng tạo (ĐMST) của Việt Nam được đánh giá cao, nhưng thực tế việc chuyển hóa tri thức từ phòng thí nghiệm ra thị trường vẫn đang vấp phải những rào cản mang tính hệ thống.
Một trong những rào cản gây nhức nhối nhất được ông Vũ Hồng Quân, Đại biểu Quốc hội Khóa XVI, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam chỉ ra là tình trạng “chảy máu chất xám tại chỗ”.
Việt Nam hiện có đội ngũ kỹ sư dồi dào, đủ năng lực làm việc trong các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tiêu chuẩn quốc tế của các tập đoàn lớn như Samsung hay Bosch. Tuy nhiên, năng lực này lại chưa được kết nối với doanh nghiệp trong nước. Kết quả là doanh nghiệp Việt vẫn phải chi tiền tỷ để mua máy móc, thuê tư vấn và nhập khẩu giải pháp từ nước ngoài, trong khi nhân lực và kỹ thuật ngay tại Việt Nam lại đang tạo ra giá trị thương mại cho các chuỗi sản phẩm ngoại quốc.
Tương tự, theo GS.TS Trần Hồng Thái, dù Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có nền tảng nghiên cứu mạnh hàng đầu khu vực, nhưng giữa kết quả nghiên cứu và sản phẩm thị trường vẫn tồn tại một khoảng cách không nhỏ.
Phân tích sâu hơn về nguyên nhân của tình trạng này, ông Vũ Hồng Quân đã khái quát 4 “điểm nghẽn” chính. Đó là nhà khoa học thường tập trung vào tính mới và quy trình kỹ thuật, trong khi doanh nghiệp lại bắt đầu từ bài toán doanh thu, chi phí và khả năng chấp nhận của thị trường. Nếu thiếu cơ chế "phiên dịch" trung gian, công nghệ dù tốt vẫn mãi nằm trong ngăn kéo phòng thí nghiệm. Tiếp đến là năng lực hấp thụ công nghệ yếu. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thiếu phòng R&D, thiếu nhân sự chuyên trách và quy trình chuẩn. Khảo sát cho thấy chỉ khoảng 4,5% SME và 11,8% doanh nghiệp lớn có hoạt động R&D.
Ngoài ra, hệ sinh thái tài chính còn mỏng. Các ngân hàng thương mại hiện rất khó tài trợ cho tài sản trí tuệ nếu dự án chưa có dòng tiền ổn định. Trong khi đó, các quỹ đầu tư mạo hiểm hay quỹ hỗ trợ thử nghiệm (pilot) vẫn thiếu cơ chế vận hành linh hoạt và chia sẻ rủi ro. Cuối cùng là vấn đề thiếu chủ thể trung gian đủ mạnh. Các hoạt động kết nối hiện nay đôi khi chỉ dừng lại ở mức phong trào, hội thảo mà thiếu những tổ chức có năng lực tài chính, kỹ thuật và "động cơ kinh tế" để thúc đẩy công nghệ đến tận khâu ra hợp đồng và doanh thu cuối cùng.
Để vượt qua những điểm nghẽn này, PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt, Tổng Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo công nghệ cao - HTIC) cho rằng, các nhà khoa học cần phải thay đổi tư duy làm việc, thay vì chỉ quan tâm đến khoa học thuần túy, cần bắt tay chặt chẽ với doanh nghiệp để đưa sản phẩm vào thực tiễn.
GS.TS Trần Hồng Thái thì khẳng định, ĐMST không thể là nỗ lực đơn lẻ mà phải là sự cộng hưởng của "kiềng ba chân" gồm: Nhà nước kiến tạo - Doanh nghiệp dẫn dắt thị trường - Viện nghiên cứu tạo ra tri thức. Chỉ khi tri thức khoa học đi được vào thị trường, làm cho doanh nghiệp mạnh lên và nhà khoa học được ghi nhận xứng đáng, lúc đó khoa học công nghệ mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng thực chất của nền kinh tế.
Trục chính sách quan trọng khơi dậy mọi nguồn lực
Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 (Số 93/2025/QH15) đã thiết lập một hành lang pháp lý mới. Ông Vũ Hồng Quân cho rằng, luật này đã tạo ra một "trục chính sách" quan trọng, xác định rõ vai trò: Đảng định hướng chiến lược; Quốc hội thể chế hóa; Nhà nước tổ chức thực thi; nhà khoa học tạo tri thức và doanh nghiệp là lực lượng đưa công nghệ vào thị trường.
Để đưa tỷ lệ đầu tư cho R&D đạt mục tiêu 2% GDP vào năm 2030, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực KHCN đề xuất những thay đổi căn bản trong cơ chế vận hành. Việc chuyển dịch tư duy đầu tư trong KHCN không chỉ đơn thuần là tăng số lượng ngân sách mà là sự thay đổi căn bản từ cách tiếp cận, đối tượng ưu tiên đến cơ chế quản trị rủi ro. Theo ông Vũ Hồng Quân, đề xuất hoạt động kết nối và đầu tư phải đi từ việc hỏi doanh nghiệp "đang đau ở đâu, lãng phí ở đâu, cần nâng năng suất ở đâu" để đặt hàng nghiên cứu. Còn GS.TS. Trần Hồng Thái cho rằng, giá trị cuối cùng của nghiên cứu phải nằm ở khả năng tạo ra công nghệ, sản phẩm và đóng góp thiết thực cho đời sống nhân dân, thay vì chỉ nằm trong phòng thí nghiệm.
Do đó, thay vì đầu tư dàn trải cho các đề tài riêng lẻ, các quyết sách mới đã tập trung vào việc đầu tư theo chuỗi giá trị và các công nghệ lõi chiến lược.
Ông Lưu Quang Minh (Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ - Bộ KH&CN) dẫn chứng về Quyết định số 21 và Quyết định số 808 của Thủ tướng Chính phủ.
Điểm mới của các quyết định này là yêu cầu triển khai theo chuỗi, từ việc xác định bài toán lớn, bóc tách công nghệ lõi để làm chủ, đến việc xác định thị trường đầu ra và đơn vị sử dụng. Tư duy này giúp chuyển từ "lựa chọn công nghệ theo phong trào" sang "đầu tư có trọng tâm" vào các nhóm công nghệ tạo động lực lớn cho năng suất và cạnh tranh như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn và vật liệu mới.
Ngoài ra, để giải quyết "điểm nghẽn" về kinh phí cho các khâu trung gian, các chuyên gia đề xuất mô hình đồng đầu tư và quản trị rủi ro mới. Cụ thể, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) đang trình Chính phủ Nghị định mới, thúc đẩy cơ chế đồng tài trợ và đặt hàng theo mô hình "3 nhà" (Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp). Luật KH,CN&ĐMST 2025 đã ghi nhận nguyên tắc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và thử nghiệm có kiểm soát. Điều này cho phép đầu tư vào các giai đoạn có tính rủi ro cao như kiểm chứng công nghệ, hoàn thiện nguyên mẫu (prototype) trước khi thương mại hóa. Thông tin thêm, ông Vũ Hồng Quân đề xuất cần cụ thể hóa cơ chế chia sẻ rủi ro, chia sẻ lợi nhuận và huy động vốn trung, dài hạn thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ.
Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương cũng lưu ý về việc tập trung triển khai các nhiệm vụ có tính nền tảng, liên ngành nhằm tạo năng lực làm chủ công nghệ trong các lĩnh vực có tác động lớn đến tăng trưởng như AI, 5G và chế biến sâu đất hiếm. Việc luật hóa mục tiêu đầu tư 2% GDP không chỉ đơn thuần là phân bổ ngân sách, mà là việc khơi dậy mọi nguồn lực để đưa KHCN thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực tăng trưởng thực chất cho nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
TS. Nguyễn Tùng Lâm, Viện trưởng Viện năng suất Việt Nam cho hay, hiện nay, khoảng 70% - 75% doanh nghiệp Việt vẫn đang sử dụng công nghệ ở mức độ trung bình và thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới chỉ đạt khoảng 26-27%, dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ chuyên gia có kỹ năng quản trị hiện đại.