Thiếu tướng Nguyễn Quang Phòng đúng là người có "tướng"! Dáng cao to, đi đứng oai phong, giọng nói sang sảng, mắt luôn nhìn thẳng. Gặp tôi khi đang chuẩn bị cuộc trò chuyện, ông góp ý rất thẳng thắn và quyết liệt cho một bài báo của một cộng tác viên viết về vụ án liên quan đến tổ điệp báo A13 từng đánh Thông báo hạm Amyot D'lnville của thực dân Pháp tại vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hóa ngày 27/9/1950. Theo ông, bài báo ấy đã thể hiện sự non yếu khi tìm hiểu và phân tích tư liệu lịch sử liên quan đến một vụ án tiêu biểu của lực lượng Công an thời kỳ trứng nước.
1.Bản tính của Thiếu tướng Nguyễn Quang Phòng là vậy, luôn bộc trực, đã làm việc gì thì làm đến tận cùng. Bản tính ấy có nguồn gốc từ sâu thẳm của dòng họ Nguyễn Quang ở tỉnh Thái Bình.
Ông nội của tướng Quang Phòng là một sỹ phu yêu nước, thường gọi là Quản Rương, những năm 1882 -1889 đã tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp, bị chúng bắt giam, tra tấn rất dã man rồi mất tại huyện Quỳnh Côi, Thái Bình. Đến lượt cha ông khi vừa lớn lên thì bị thực dân Pháp bắt làm lính đưa sang châu Âu đánh phát xít Đức trong đại chiến Thế giới lần thứ nhất (1914-1918).
Dường như dòng máu chống thực dân truyền từ thế hệ trước đến cha ông vẫn chảy trong huyết quản, vì thế lúc gặp lại người cháu Nguyễn Quang Cáp hoạt động cùng các đồng chí Hoàng Quốc Việt và Nguyễn Lương Bằng giới thiệu thì ông có cảm tình ngay và tích cực giúp đỡ bằng cách thông qua những thủy thủ giác ngộ cách mạng ở tàu biển "năm sao" của Pháp, nơi ông làm việc để chuyển những tin tức, tài liệu sách báo của Đảng Cộng sản Pháp về Việt Nam và ngược lại.
Năm 1934, cha ông đưa cả gia đình về sinh sống tại xã Quỳnh Giao, Quỳnh Phụ. Cha ông được Triều đình Huế phong hàm "Lục phẩm tinh binh chánh xuất đội" và mất năm 1944.
Ông Nguyễn Quang Phòng, SN 1927, tại Hải Phòng, nhưng suốt tuổi thơ của ông theo cha mẹ về huyện Quỳnh Côi, Thái Bình học tập rồi tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Ông học giỏi, nhưng bắt đầu nhận thấy rằng, đất nước đang bị nô lệ, mình vẫn phải học lên Thành Chung (như THPT bây giờ) nhưng không thể ra làm tay sai cho chúng. Và rồi như một lẽ tự nhiên, Nguyễn Quang Phòng tham gia Việt Minh từ tháng 1/1945 với chức "Đội trưởng tự vệ" bảo vệ người cộng sản Ngô Duy Đông, sau này là Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình, Hải Hưng (Hải Dương, Hưng Yên).
Ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8/1945, Nguyễn Quang Phòng tham gia giành chính quyền huyện Quỳnh Côi và chiếm đồn Bến Hiệp rồi thoát ly vào bộ đội từ đó (19/8/1945). Ngày 19/8/1947, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng. Khi được hỏi ngày được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, ông thấy lòng mình như thế nào, Tướng Quang Phòng cười lớn, rồi tâm sự: Lãng mạn lắm, những người cộng sản trẻ tuổi hồi ấy đều có một tâm huyết giống nhau, thề xin thực hiện lý tưởng cộng sản ở Việt Nam, ở Đông Dương và trên toàn thế giới, tức là làm cách mạng toàn thế giới!!! Chúng tôi thường hay hát: "Ta mơ trần gian, lấp san bằng hết biên thùy. Chỉ còn loài người, chỉ còn tình thương trên toàn thế giới...". Tức là đi theo học thuyết "Thiên hạ vi công, thế giới đại đồng"; đó âu cũng là nhận thức ấu trĩ của nhiều đảng viên trẻ thời ấy!
Ông vào bộ đội, được cử về phụ trách công tác chính trị, quân sự tại huyện Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ. Rồi tháng 8/1949, Nguyễn Quang Phòng trở lại công tác tại Cục Tình báo Bộ Quốc phòng, ở bộ phận Phòng Phản gián. Năm 1950, theo chủ trương của Trung ương, Cục Tình báo sáp nhập với Nha Công an TW, ông được về làm việc tại Phòng Địch tình, Ty Chính trị thuộc Nha Công an Trung ương do ông Lê Giản làm Tổng Giám đốc.
Mới "chân ướt chân ráo", nhưng tại đây ông cùng với nhiều cán bộ trẻ kiến nghị với lãnh đạo Nha Công an Trung ương cần rút các đồng chí Hoàng Đạo, Kim Sơn ra chiến khu vì biện pháp nghiệp vụ cho cán bộ Công an "giả đầu hàng" thực dân Pháp để hoạt động đã gây nhiều tác hại trong dư luận quần chúng nhân dân, hiểu nhầm cán bộ kháng chiến. Vì thế, Nha Công an đã "tương kế tựu kế" lập kế hoạch bí mật đánh đắm Thông báo hạm Amyot D'lnville, rút an toàn các chiến sĩ của ta từ vùng tạm chiến. Và cũng từ đây người chiến sĩ tình báo giỏi tiếng Pháp Nguyễn Quang Phòng gắn bó đời mình với sự nghiệp bảo vệ An ninh Tổ quốc.
Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ thuộc Cục Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng nói riêng và Tổng cục An ninh nói chung luôn giữ một thái độ trân trọng đến mức kính cẩn với người thủ trưởng của mình - Tướng Quang Phòng.
Thiếu tướng, nhà văn Khổng Minh Dụ, nguyên Cục trưởng A25, từng là người lính của Tướng Quang Phòng đã khái quát chân dung dày tâm đức, giỏi nghiệp vụ của ông bằng một câu văn "Vị tướng giàu bản lĩnh và tâm hồn thi sĩ". Thiếu tướng Nguyễn Quang Phòng còn là một trong những người đầu tiên tạo nên thương hiệu của lực lượng Bảo vệ an ninh nội bộ và văn hoá tư tưởng suốt hơn nửa thế kỷ qua…
2.Về hưu với quân hàm Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng An ninh, ông Nguyễn Quang Phòng dường như không quên nhiệm vụ. Tôi nhớ, có lần ông vào thăm Phòng An ninh báo chí - xuất bản, chi bộ tôi do Trưởng phòng kiêm Bí thư Bùi Văn Cơ (nay là Thiếu tướng, Cục trưởng) chủ trì.
Nghe tin ông tới, chúng tôi giải lao để tiếp ông, nhưng chủ yếu là để được nghe ông giảng giải, khuyên bảo về công tác nghiệp vụ. Ai đó ví Thiếu tướng Nguyễn Quang Phòng như là một cuốn "từ điển sống", quả không sai. Ông khuyên chúng tôi phải dám "chịu chơi", phải giao lưu với các nhà văn lớn, với các trí thức, với những cây "đại thụ" về chuyên môn để học hỏi.
Ông bảo không bao giờ được "cậy thế" Công an mà làm bừa để dư luận xấu, rất khó giải tỏa. Muốn học thì đừng giấu dốt, mà anh em ta dốt thật, chưa được xứng là học trò của trí thức lớn trong nước thì đừng có mà "tinh vi". Nói xong chữ "tinh vi", ông lại cười lớn một cách sảng khoái…
Tôi hỏi ông, trong ngôi nhà giản dị ở phố nhỏ Phương Liên, Hà Nội, có một không khí gia đình CAND ba thế hệ. Vợ ông, bà Nguyễn Thu Thuận sát cánh cùng ông, cùng chung lý tưởng với ông, nay đã 62 năm tuổi Đảng. Với thâm niên 50 năm tham gia lực lượng CAND, đâu là điều ông tâm huyết nhất, còn điều gì khiến ông trăn trở nhất? Không suy nghĩ lâu, ông nói nhỏ nhẹ: Khi Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, hầu như ngành nào cũng có kế thừa từ chế độ cũ. Chỉ có nghề Công an là không ai dạy cả. Mật thám Pháp hay tình báo Nhật, Pháp, Mỹ, đặc vụ Tưởng cũng không dạy cho ta, không "truyền nghề" cho ta được. Vì thế, lực lượng Công an phải sáng tạo, tự lực cánh sinh, phải tự tìm trong truyền thống cha ông, trong thực tiễn thành công và thất bại để đúc kết bài học kinh nghiệm mà chiến thắng kẻ thù.
Tri thức ấy phải trả bằng máu mới xây dựng nên kho tàng biện pháp nghiệp vụ làm nên chiến thắng. Bí mật ấy là của ngành Công an, của Đảng và Nhà nước chỉ đạo, đúc kết mà nên. Vì thế, nếu gia đình nào có nhiều người, nhiều đời tham gia lực lượng CAND thì đó sẽ là môi trường vô cùng thuận lợi để truyền cho nhau những bí quyết, kinh nghiệm xương máu không thể lộ lọt ra ngoài. Các cụ ta thường dạy "sống để dạ chết mang theo" là như thế. Tôi tự hào vì gia đình tôi học hành thông minh và có đến ba đời chọn ngành Công an để làm việc.
Điều tôi luôn dặn con cháu là: Ngày xưa, bố phải tìm rồi tự nguyện dấn thân, tham gia cướp chính quyền thoát vòng nô lệ, bảo vệ chính quyền. Nhiệm vụ các con bây giờ phải đi tiếp con đường bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước. Hãy như cha mẹ thuở ấy dám chấp nhận hy sinh vì lý tưởng. Mẹ các con theo nghề kiểm sát, bố làm nghề An ninh, cùng bảo vệ pháp luật, nhưng đã phấn đấu, rèn luyện suốt đời, giữ bản lĩnh và nhân cách để đến hôm nay cùng được nhận huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Đó há chẳng phải là gia tài tinh thần vô giá sao?
| Đại tá Nguyễn Quang Hùng: Tôi theo nghiệp và học bố mình như lẽ tự nhiên Thực ra ngay từ đầu, tôi có nguyện vọng thi vào Đại học Ngoại thương. Nhưng năm đó, tôi thiếu nửa điểm, bố tôi bảo: "Anh trai con đã học Trường Đại học An ninh, chị gái đã học Trường Đại học Cảnh sát, hay là con đăng ký chuyển vào học Trường Đại học Công an vũ trang (sau là Bộ đội Biên phòng)?. Bố rất muốn nhà mình đi theo đường nghiệp vụ của Công an”. Vậy là tôi nghe lời bố vào học khóa đại học đầu tiên của Trường Biên phòng vào tháng 9/-1977. Khi chuyển về công tác tại Tổng cục An ninh - Bộ Công an, tại Cục Bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng do bố mình làm Cục trưởng, ai cũng nghĩ tôi sẽ có nhiều thuận lợi để thăng tiến. Tất nhiên, các chú, các anh lãnh đạo sẵn sàng tạo điều kiện cho tôi làm ở những vị trí thuận lợi nhất. Nhưng lúc ấy, tôi nghĩ mình phải làm việc, phải sống như thế nào để bố mình không "mang tiếng"; phải giữ uy tín cho bố trong bất cứ hoàn cảnh nào. Bố tôi sau khi hỏi ý kiến tôi đã khuyên con trai rằng: "Theo bố, con nên về Phòng Bảo vệ nội bộ y tế, giáo dục, khoa học xã hội, sẽ được làm việc, tiếp xúc với nhiều trí thức lớn, để được học hỏi mà trưởng thành". Tôi nghe lời ông, xin về bộ phận đó, nơi mà những người trẻ như tôi hồi ấy ít lựa chọn. Quả thật sau này đó là niềm hạnh phúc lớn vì nhiều năm qua, tôi đã lớn lên như thế nào ở môi trường nhân văn ấy. Đối với gia đình tôi, bữa cơm tối trở thành "điểm hẹn" lý thú. Bố tôi vốn tính thẳng thắn nên có góp ý, giáo dục con cái cũng không có chuyện vòng vo, cứ thẳng băng luôn, tất nhiên là không gay gắt. Các anh chị lớn ở riêng, tôi là con út ở cùng với bố mẹ nên kiêm luôn cả việc đi chợ nấu cơm. Nhờ gần gũi, nên tôi là người con được thụ hưởng nhiều nhất những điều răn dạy của bố mẹ. Nhiều câu chuyện nghiệp vụ kinh điển qua các vụ án mà ông kể lại, trong đó hàm chứa nhiều kinh nghiệm xương máu, cả thành công và thất bại mà có thể chỉ những người "gan ruột" ông mới thổ lộ, chia sẻ… đã sống động trong suốt cuộc đời công tác của tôi. Còn nói về chuyện học bố mình điều gì ư? Đó là lòng khâm phục của tôi khi nhiều lần được chứng kiến cách ứng xử nhân văn của ông với mọi người. Còn nhớ vào một bữa cơm tối năm 1987, nhà tôi đang ăn cơm vui vẻ, bỗng có người hàng xóm gõ cửa chuyển cho bố tôi một bức thư của một người đàn bà không quen nhờ đưa. Ông dừng ăn, bóc thư đọc ngay. Tôi theo dõi nét mặt ông đoán biết đấy là bức thư rất quan trọng. Đọc xong thư, ông quay lại ăn cơm, nói chuyện cùng hai mẹ con tôi nhẹ nhàng như không có gì xảy ra. Ông không bao giờ tâm sự với tôi về bức thư này. Phải vài chục năm sau tôi mới được biết, đó là bức thư mà một văn nghệ sỹ bị pháp luật xử lý đã viết với lời lẽ vu oan, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của bố tôi lúc đó là Cục trưởng An ninh. Có lẽ ông đau đớn lắm, nhưng không thanh minh, nén chịu như là sự tất nhiên của nghề nghiệp vậy. Nhưng tôi cũng được biết, sau này, chính người văn nghệ sỹ nọ đã viết thư xin lỗi bố tôi. Ông cũng lặng lẽ, không nói cùng ai. Dường như đó là bí mật riêng của ông, bí mật riêng của lực lượng An ninh. Và cứ hằng ngày như thế, tôi theo nghiệp của bố, học bố mình như một lẽ tự nhiên... |
| Thiếu úy Phạm Viết Hoàng, Công an phường Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội: Ông ngoại luôn là tấm gương để tôi noi theo Khi còn nhỏ, tôi đã được mẹ kể cho nghe rất nhiều câu chuyện về những chiến công của ông nơi chiến trường bom đạn và công việc của ông khi đất nước ta đã thống nhất. Qua những câu chuyện ấy, không biết tự bao giờ, tôi thấy yêu thích công việc của một chiến sĩ Công an. Trong những năm tháng còn nhỏ được may mắn sống trong tình yêu thương của ông, ông đã truyền sang tôi niềm đam mê, lòng tự nguyện đi theo công việc mà ông và mẹ tôi đã lựa chọn. Và càng ngày tôi càng cảm thấy tự hào khi mình là thế hệ thứ 3 tiếp nối sự nghiệp của ông - sự nghiệp bảo vệ An ninh Tổ quốc và hạnh phúc bình yên của nhân dân. Chỉ mới 3 năm công tác ở Công an phường, dường như tôi đã thấu hiểu phần nào sự vất vả của ông những đêm ông ngồi làm việc… Cả đến nay, tuy ông đã nghỉ hưu, nhưng tôi nhận thấy ông tôi vẫn tâm huyết như ngày nào còn công tác. Ông mãi mãi là tấm gương sáng gần gũi nhất để tôi noi theo. |