Hai người còn lại là Giáo sư Makoto Kobayashi (1944) tại Tổ chức Nghiên cứu Máy gia tốc Năng lượng lượng cao (Nhật Bản) và Giáo sư Toshihide Maskawa (1940) tại Viện Vật lý lý thuyết Yukawa thuộc Đại học Kyoto“do phát minh nguồn gốc của sự phá vỡ đối xứng mà nó dự đoán sự tồn tại của ít nhất ba họ quac trong tự nhiên”.
Trong buổi lễ nhận giải, được phát sóng rộng rãi trên truyền hình, Giáo sư Toshihide Masakav đã khiến cho rất nhiều người cảm thấy kỳ khôi vì ông thẳng thắn tuyên bố rằng, ông hoàn toàn không biết tiếng Anh. Và ông đã đọc diễn từ bằng tiếng mẹ đẻ với lý do: “Tôi chỉ có thể nói bằng tiếng Nhật”.
Có lẽ trong tương lai gần những câu chuyện bất thường như thế sẽ khó có thể xảy ra hơn. Theo báo Kyoto Shimbun, chính phủ Nhật mới đây đã quyết định sẽ tăng cường đầu tư cho việc dạy tiếng Anh ở xứ sở hoa anh đào để các trí thức tương lai có thể thích nghi hơn với một thế giới đang ngày càng dấn sâu vào xu thế toàn cầu hóa như hiện nay.
Ban Xét lại hệ thống giáo dục thuộc đảng Dân chủ Tự do cầm quyền vừa trình lên Thủ tướng Shinzo Abe dự án đầu tiên của mình về việc cải cách giáo dục. Cùng với các đề nghị tăng cường đào tạo các chuyên gia về khoa học chính xác và công nghệ thông tin để có thể đủ năng lực đóng một vai trò xứng đáng trong cộng đồng khoa học quốc tế, dự án này đã nêu bật nhu cầu phải cải cách việc dạy và học tiếng Anh trong các nhà trường ở Nhật Bản.
Bên cạnh kế hoạch nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tiếng Anh và tăng cường số lượng đội ngũ này ở tất cả các tỉnh thành của cả nước, dự án đề nghị mở thêm các trường chuyên dành cho học sinh các lớp cuối cấp trung học, chuẩn bị cho họ những kiến thức cần thiết để thi vào các trường đại học hàng đầu trên thế giới. Số lượng các trường đại học giảng dạy một nửa số môn bằng tiếng Anh, sẽ được tăng lên đến 30%...
Cũng theo báo Kyoto Shimbun, dự án của Ban Xét lại hệ thống giáo dục thuộc đảng Dân chủ Tự do đã gây nên một sự ngạc nhiên đặc biệt khi đưa ra đòi hỏi phải đạt được một điểm số rất cao trong các kỳ thi quốc tế về tiếng Anh TOEFL (Test of English as a Foreign Language) như điều kiện để nhập học và tốt nghiệp ở các trường đại học Nhật. TOEFL kiểm tra các kỹ năng nghe, nói, đọc viết bằng tiếng Anh để đánh giá kỹ năng hiểu và sử dụng tiếng Anh chuẩn Mỹ của một người có đạt đến trình độ có thể sử dụng ở bậc đại học hay không. Điểm TOEFL thường được yêu cầu khi nhập học ở hầu hết các trường đại học và cao đẳng ở Mỹ. Đây thực sự là một bài kiểm tra có một mức độ phức tạp rất cao. Đối với đại đa số học sinh trung học Nhật Bản hiện nay, thi lấy được bằng TOEFL là một nhiệm vụ khó quá sức tưởng tượng…
Giảm độ tuổi bắt đầu học tiếng Anh
Nếu biết tiếng Anh sẽ là điều kiện bắt buộc đối với các ứng viên vào đại học, tất yếu sẽ buộc các học sinh Nhật Bản phải nỗ lực nhiều hơn để nghiên cứu ngoại ngữ và vì thế, có thể sẽ phải bắt đầu làm quen với tiếng Anh sớm hơn.
Ngay từ bây giờ trên hòn đảo mặt trời mọc, tiếng Anh đã được chọn làm bộ môn bắt buộc phải học ngay từ lớp năm hoặc lớp sáu bậc tiểu học. Bắt đầu từ mùa xuân này, trong trường trung học bộ môn sẽ được giảng dạy bằng tiếng Anh. Thêm vào đó, vốn từ vựng tối thiểu cũng sẽ được mở rộng.
Ở bậc đại học tại Nhật Bản cũng sẽ gia tăng số lượng các bài giảng bằng tiếng Anh. Ở Trường Đại học Dosisya đã lập ra cả một khoa giảng bài chỉ bằng tiếng Anh cho tới lúc tốt nghiệp.
Đang ngày càng gia tăng số lượng các công ty, chẳng hạn như Fast Retailing và Rakuten, nơi lựa chọn tiếng Anh như ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu trong giờ làm việc.
Tại sao lại cần phải nỗ lực đến như vậy trong việc phổ cập hơn Anh ngữ ở Nhật Bản?
Rất cần chú ý tới tuyên bố của Ban Xét lại hệ thống giáo dục thuộc đảng Dân chủ Tự do, cơ quan đã thay đổi hướng phát triển sang việc “thoát khỏi hệ thống trung bình hóa các kết quả và chuyển sang đào tạo đội ngũ nhân sự chiến lược từ những ứng viên có khả năng nhất, vì lý do đang xuất hiện hụt hẫng về các chuyên gia cần thiết cho sự phục hồi nền kinh tế”. Nói cách khác, đó chính là chuẩn bị tầng lớp tinh hoa mới.
Hoàn toàn có thể hiểu được tầm quan trọng của đào tạo cán bộ nếu nhìn từ quan điểm duy trì và tăng cường khả năng cạnh tranh của Nhật Bản trên trường quốc tế. Và cũng cần phải lưu tâm tới việc “các công ty Nhật Bản đang bị bó hẹp trong thị trường nội địa chỉ vì họ không nói được tiếng Anh” (Chủ tịch Rakuten Hiroshi Mikitani).
Tuy nhiên, liệu một cuộc cách mạng như thế trong giáo dục, tập trung vào việc đào tạo nên một tầng lớp tinh hoa, có thể trở thành cứu rỗi cho nền kinh tế Nhật Bản hay không? Không thể không thấy rõ nguy cơ “cốc mò cò xơi”, đẩy nhanh tốc độ rò rỉ những chuyên gia giỏi thông thạo tiếng Anh như thế ra làm việc ở nước ngoài. Và nhìn từ góc độ khác, sẽ gia tăng cả độ chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp người dân, làm sâu sắc thêm vực thẳm phân hóa xã hội.
Quyết liệt tăng trưởng
Điều 26 của Hiến pháp Nhật Bản nêu rõ: “Các công dân đều có quyền bình đẳng để nhận được học vấn phù hợp với khả năng của mình”. Nếu thực sự tuân thủ nguyên tắc này, chính phủ Nhật Bản và các cơ quan chức địa phương nên trước hết tập trung vào nâng cao trình độ giáo dục.
Ngay cả khi tiến hành chính sách tăng cường giảng dạy tiếng Anh, thì điều đó cũng không có nghĩa là, cần phải khước từ các sinh viên có triển vọng và loại bỏ tất cả những “Toshihide” trong tương lai chỉ vì họ không có đủ những kiến thức Anh ngữ theo quy chế mới.
Có một điều đáng ngạc nhiên là, những lợi ích của đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản lại đang tập trung hoàn toàn vào Anh ngữ.
Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chính thức của nền chính trị quốc tế, cùng với tiếng Pháp từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trước chiến tranh tại các lớp trên học sinh đã được dạy ba ngoại ngữ là tiếng Anh, Pháp và Đức.Trên thế giới hiện nay đang tồn tại rất nhiều thứ tiếng khác nhau. Theo một công trình nghiên cứu, vị trí đứng đầu thế giới về mức độ phổ cập hiện nay đang thuộc về tiếng Anh với kỷ lục 1,4 tỷ người sử dụng nó.
Tuy nhiên, đứng đầu về số người coi mình là tiếng mẹ đẻ chắc chắn thuộc về tiếng Quan Thoại của người Hán ở đất nước Trung Hoa có tới trên một tỷ dân (theo con số thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng gần 900 triệu người coi tiếng Quan Thoại là tiếng mẹ đẻ). Tiếng Hindi hiện cũng có tới trên dưới 370 triệu người coi là tiếng mẹ đẻ. Tiếng Anh nhìn từ góc độ này chỉ đứng ở vị trí thứ ba với 350 triệu người coi nói là bản ngữ. Tiếp theo là tiếng Tây Ban Nha với 250 triệu người coi là tiếng mẹ đẻ. Bởi vậy, có lẽ cần phải nghiên cứu tất cả các ngôn ngữ này?
Nhà trí thức nổi tiếng ở Kyoto về trình độ Anh ngữ vào hàng cao thủ là ông Hiroki Sato đã lên tiếng cảnh báo về những nguy cơ thay đổi tại chính trái tim của tiếng Nhật khi tập trung quá sâu vào Anh ngữ: “Trong ngôn ngữ giao tiếp hiện đại đang diễn ra hiện tượng gia tăng cách nói theo kiểu Anh và giảm đi cách nói theo kiểu Nhật”. Muốn nói gì thì nói, định hướng quốc tế của nền giáo dục chỉ được thực hiện trên nền tảng của một thứ tiếng mẹ đẻ mạnh mẽ.
Càng có nhiều hiểu biết về ngoại ngữ càng có thêm cơ hội để tiếp nhận những sự đa dạng của thế giới bên ngoài. Theo quan điểm của tờ Kyoto Shimbun, toàn cầu hóa trong giáo dục cần phải được diễn ra với một cách tiếp cận rộng mở, chứ không chỉ thiên về nhu cầu thông thạo Anh ngữ để tiến hành thương mại và tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ…