Hơn 68 triệu chứng minh nhân dân đã được cấp
Để đáp ứng nhu cầu giao dịch của nhân dân và góp phần quản lý xã hội, kể từ khi thống nhất đất nước đến nay, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về căn cước công dân. Theo thống kê của Bộ Công an, đến hết năm 2013, toàn quốc đã làm thủ tục và cấp được 68.124.934 chứng minh nhân dân (CMND), đạt 96,6% so với tổng số người trong diện cấp CMND; trong đó, đổi 18.034.383 CMND, cấp lại 16.000.013 CMND.
Nhưng trước sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là bối cảnh thực hiện hội nhập, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế và cải cách hành chính đã đặt ra các yêu cầu mới.
Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền tự do đi lại, giao dịch, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình là quyền con người, quyền công dân được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm. Căn cước công dân liên quan trực tiếp đến những quyền này; vì vậy, xây dựng Luật căn cước công dân để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân liên quan đến căn cước công dân.
Trong khi đó, kỹ thuật, công nghệ cấp, quản lý CMND còn lạc hậu, chưa bảo đảm phục vụ tốt yêu cầu quản lý dân cư và hội nhập quốc tế; hình thức, nội dung của giấy tờ về căn cước công dân chưa phù hợp với quy định của nhiều nước trên thế giới. Vì vậy, cần quy định việc sử dụng thẻ Căn cước công dân theo công nghệ tiên tiến vừa bảo đảm bền, đẹp, chống làm giả, vừa có khả năng tích hợp nhiều thông tin cần thiết để góp phần đơn giản hóa giấy tờ cho công dân, từng bước thực hiện Chính phủ điện tử…
Thẻ căn cước sẽ thay sổ hộ khẩu và một số giấy tờ khác
Thẻ Căn cước công dân (thay cho tên gọi hiện nay là CMND) là giấy tờ tùy thân có giá trị chứng nhận căn cước của công dân Việt Nam, do cơ quan có thẩm quyền cấp từ cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Dự thảo Luật quy định nội dung thẻ Căn cước công dân phản ánh thông tin cơ bản về công dân phục vụ cho việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân nhưng vẫn bảo đảm giữ bí mật đời tư cá nhân.
Đối với người dưới 15 tuổi thì không in ảnh, vân tay và ghi đặc điểm nhân dạng của người đó trên thẻ.
Trên thẻ Căn cước công dân có thông tin về nơi thường trú của công dân và do đó, sau khi hoàn thành cơ sở hạ tầng và tích hợp đầy đủ dữ liệu về công dân sẽ bỏ sổ hộ khẩu. Trên thẻ Căn cước công dân cũng có thông tin về họ và tên khai sinh, họ và tên gọi khác, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc. Các thông tin này được tích hợp từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nên công dân có thể sử dụng thẻ Căn cước công dân để chứng minh các thông tin này trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân mà không cần phải sử dụng một số giấy tờ khác của công dân.
Mặt khác, trên thẻ Căn cước công dân có số định danh cá nhân của mỗi người giúp cho công dân thuận tiện khi giải quyết các thủ tục hành chính, thực hiện các giao dịch dân sự, giúp cơ quan, tổ chức kiểm tra, khai thác các thông tin về công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Dự thảo Luật quy định, trên thẻ Căn cước công dân có bộ phận điện tử để lưu trữ, khai thác thông tin về công dân. Quy định này làm cơ sở tích hợp các thông tin cần thiết trên thẻ Căn cước công dân để phát triển thành thẻ công dân điện tử.
Số định danh cá nhân được sử dụng làm số thẻ Căn cước công dân; trường hợp đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân thì số thẻ Căn cước công dân vẫn giữ đúng theo số định danh cá nhân đã cấp.
Hiện nay, số CMND sẽ thay đổi khi công dân thay đổi nơi thường trú từ tỉnh này sang tỉnh khác nên rất khó quản lý và có thể lặp lại ở người khác. Dự thảo Luật quy định theo hướng số định danh cá nhân được sử dụng làm số thẻ Căn cước công dân; trường hợp đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân thì số thẻ Căn cước công dân vẫn giữ đúng theo số định danh cá nhân đã cấp. Đây là chìa khóa giúp khai thác các thông tin về công dân trong cơ sở dữ liệu căn cước công dân cũng như Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư mà không phải yêu cầu công dân xuất trình nhiều giấy tờ không cần thiết.
Để bảo đảm cho công dân sử dụng thẻ Căn cước công dân đúng mục đích, hạn chế việc cơ quan, người có thẩm quyền gây khó khăn cho công dân trong quá trình sử dụng thẻ Căn cước công dân, dự thảo Luật đã quy định cụ thể giá trị sử dụng của thẻ Căn cước công dân:
Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng nhận về căn cước, số định danh cá nhân, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quê quán, nơi đăng ký thường trú, quốc tịch Việt Nam của người được cấp thẻ trong các giao dịch có liên quan trên lãnh thổ Việt Nam.
Thẻ Căn cước công dân được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho việc sử dụng hộ chiếu.
Cơ quan, người có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin; được sử dụng số định danh cá nhân trên thẻ Căn cước công dân để kiểm tra thông tin của người được cấp thẻ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền thì cơ quan, người có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin.
Về đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân. Người thuộc một trong các trường hợp sau thì được làm thủ tục đổi thẻ Căn cước công dân:
Thẻ Căn cước công dân hết thời hạn sử dụng theo quy định hoặc bị hư hỏng không sử dụng được; Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký thường trú; Thay đổi quê quán do thay đổi địa giới hành chính; Thay đổi đặc điểm nhân dạng; Được xác định lại dân tộc, giới tính; Có sai sót về thông tin trên thẻ Căn cước công dân; Công dân có yêu cầu đổi thẻ Căn cước công dân.
Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được làm thủ tục cấp lại thẻ Căn cước công dân: Bị mất thẻ Căn cước công dân; Người Việt Nam đã được cấp thẻ Căn cước công dân sau đó ra nước ngoài định cư, nay trở về Việt Nam sinh sống và được đăng ký thường trú.
Về các trường hợp đổi thẻ Căn cước công dân: Dự thảo Luật bổ sung một số trường hợp được đổi thẻ Căn cước công dân là thay đổi quê quán do thay đổi địa giới hành chính, được xác định lại dân tộc, giới tính, có sai sót về thông tin trên thẻ Căn cước công dân, công dân có yêu cầu đổi thẻ Căn cước công dân cho phù hợp với tình hình thực tế.
Những điểm mới cơ bản của Luật căn cước công dân
Một quy định mới của Luật là thời hạn sử dụng thẻ. Pháp luật hiện hành quy định hạn sử dụng của CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp. Thực tế cho thấy, quy định này chưa phù hợp với công dân ở từng độ tuổi khác nhau do ở mỗi độ tuổi khác nhau thì mức độ thay đổi về đặc điểm nhân dạng là khác nhau. Do đó, dự thảo Luật quy định theo hướng hạn sử dụng của thẻ Căn cước công dân tương thích với từng độ tuổi nhất định, cụ thể:
- Hạn sử dụng thẻ của người dưới 15 tuổi là từ khi cấp thẻ đến khi người đó đủ 14 tuổi.
- Hạn sử dụng thẻ của người từ 15 tuổi đến dưới 25 tuổi là 10 năm, kể từ ngày cấp.
- Hạn sử dụng thẻ của người từ đủ 25 tuổi đến dưới 70 tuổi là 15 năm, kể từ ngày cấp.
- Không xác định hạn sử dụng đối với thẻ của người từ 70 tuổi trở lên.
Dự thảo Luật quy định cấp thẻ Căn cước công dân cho công dân dưới 15 tuổi, ngay từ khi làm thủ tục khai sinh để bảo đảm quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, Luật không quy định hạn chế người được cấp thẻ Căn cước công dân, kể cả người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình. Quy định này nhằm bảo đảm quyền được cấp thẻ Căn cước của công dân để phục vụ giao dịch. Đây là một bước tiến quan trọng so với quy định của pháp luật hiện hành.
Một quy định mới của dự thảo Luật là nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân. Pháp luật hiện hành chỉ quy định công dân làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại giấy tờ về căn cước công dân tại công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Để đáp ứng nhu cầu cấp, đổi, cấp lại giấy tờ về căn cước công dân ngày càng tăng của công dân, dự thảo Luật quy định công dân có thể lựa chọn 1 trong 4 nơi để làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân: Trụ sở cơ quan quản lý căn cước công dân của Bộ Công an; Trụ sở cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Trụ sở cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Công dân có thể lựa chọn nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân theo quy định mà không phụ thuộc vào nơi cư trú. Quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi lớn cho công dân, nhất là đối với những người đi làm ăn ở địa phương xa nơi thường trú của mình, họ có thể đến ngay cơ quan quản lý căn cước công dân nơi gần nhất để làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ Căn cước công dân mà không nhất thiết phải trở về nơi thường trú để thực hiện.
Dự kiến Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015.
| Sửa đổi Luật Công an nhân dân để đảm bảo tính thống nhất với một số luật liên quan và phù hợp với Hiến pháp năm 2013 Chiều 4/6, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang đã trình bày tờ trình của Chính phủ về dự án Luật CAND (sửa đổi). Dự thảo luật gồm 7 chương, 42 điều, so với luật hiện hành thì không thay đổi về số chương, giảm 1 điều, sửa đổi 13 điều... Trong đó, về nhiệm vụ và quyền hạn của CAND có sửa đổi, bổ sung một số nội dung cho phù hợp với các luật có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của CAND trong thời gian gần đây. Tại chương IV về sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND quy định hệ thống cấp bậc hàm và đối tượng, điều kiện, thời hạn xét phong, thăng hàm cấp bậc hàm sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND. Quy định chức vụ của sĩ quan CAND, cấp bậc hàm cao nhất đối với chức vụ của sĩ quan CAND; về hạn tuổi phục vụ; về nghĩa vụ, trách nhiệm của sĩ quan CAND; những việc sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ CAND không được làm... Tờ trình của Chính phủ cũng giải thích rõ căn cứ khoa học của việc quy định cấp bậc hàm cao nhất đối với sĩ quan đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy trong CAND. Dự luật cũng quy định về bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của CAND, trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, chính sách đào tạo, chế độ tiền lương, phụ cấp, nhà ở và điều kiện làm việc đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, sinh viên, học viên CAND... Thẩm tra dự án Luật CAND, Ủy ban Quốc phòng và An ninh tán thành sự cần thiết và quan điểm xây dựng dự án luật. Thường trực Ủy ban thấy rằng, dự thảo luật đã bám sát và phù hợp chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới và nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng. |