NSND Trà Giang: "Chị Tư Hậu" duyên dáng cùng năm tháng

Những ai yêu điện ảnh Việt Nam, chắc chắn sẽ không quên hình ảnh một người phụ nữ miền Nam nhân hậu, đằm thắm nhưng phải gánh chịu không ít những nỗi đau tinh thần do cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp gây ra. Hình ảnh chị Tư Hậu cũng là hình ảnh của rất nhiều người mẹ, người chị Việt Nam một thời được NSND Trà Giang làm sống lại trên màn ảnh.

Kể từ vai diễn năm 20 tuổi ấy cho đến nay, dù đã hơn nửa thế kỷ, NSND Trà Giang cũng đã tạm rời xa chốn phim trường, nhưng những đóng góp của bà đối với điện ảnh Việt Nam thì không ai có thể phủ nhận được.

NSND Trà Giang sinh năm 1942 tại Quảng Ngãi. Năm 1955, bà theo gia đình tập kết ra Bắc. Được thừa hưởng năng khiếu từ người cha của mình (NSƯT Nguyễn Văn Khánh, Trưởng đoàn Văn công Liên khu V) nên ngay từ bé, Trà Giang đã rất thích âm nhạc, thích múa, hát. Và cũng không ai khác mà chính cha của bà đã là người đầu tiên "đọc" ra được năng khiếu diễn xuất của cô con gái nhỏ. Chính ông đã chụp các bức ảnh chân dung cho bà để khuyến khích bà gửi đơn đăng ký dự thi tuyển sinh lớp diễn viên điện ảnh.

NSND Trà Giang cùng chồng và con gái.
NSND Trà Giang cùng chồng và con gái.

"Không biết nhờ tài chụp ảnh của ba hay nhờ tôi "ăn ảnh" - NSND Trà Giang chia sẻ - nên tôi có tên được chọn học ở Trường Điện ảnh Việt Nam khóa đầu tiên cùng với các lớp anh chị như: Kim Chi, Minh Đức, Thụy Vân...

Thời ấy, các chuyên gia nước ngoài thường sang hỗ trợ đào tạo cho ngành điện ảnh trẻ Việt Nam, cho nên chúng tôi được rèn luyện bài bản lắm. Ai cũng háo hức chờ đợi vai diễn, mong muốn được thử vai... Khi phim "Vợ chồng A Phủ" khởi quay, chị Đức Hoàn được chọn đóng vai cô Mị; chị Mai Châu vào vai bà vợ cả Thống lý Pá Tra; anh Trần Phương vào vai A Phủ; còn chúng tôi cũng được chọn đóng vai các cô gái dân tộc vùng cao Tây Bắc, mà chỉ là diễn viên quần chúng, không thấy rõ mặt cô nào đâu, nhưng ai cũng rất vui và háo hức…".

NSND Trà Giang vào vai chính chị Tư Hậu trong bộ phim điện ảnh cùng tên của Đạo diễn Phạm Kỳ Nam năm bà 20 tuổi, là vai diễn thứ hai trong đời bà sau vai chị Kiên trong phim "Một ngày đầu thu" (Đạo diễn Huy Vân, Hải Ninh) năm 1962. Phim nói về cuộc đời một người phụ nữ miền Nam Việt Nam tên là Tư Hậu trong kháng chiến chống Pháp. Phim được chuyển thể từ kịch bản là tác phẩm văn học của nhà văn Bùi Đức Ái viết năm 1958: tác phẩm "Một chuyện chép ở bệnh viện".

NSND Trà Giang trong vai chị Tư Hậu.
NSND Trà Giang trong vai chị Tư Hậu.

Vào vai chị Tư Hậu, Trà Giang đã thể hiện chân thành và truyền cảm những trạng huống, tình cảnh hạnh phúc, tủi nhục, đau khổ cùng sự vươn lên cứng cỏi về ý chí, làm sáng tỏ quá trình biến đổi nhân vật từ một phụ nữ Nam bộ yếu đuối, thụ động, thành một phụ nữ tích cực, chủ động trong cuộc sống riêng và chung... Một nhà báo hồi ấy đã nhận xét, với vai diễn này, Trà Giang đã bộc lộ một khả năng nhạy cảm, tinh tế khi bộc lộ những rung động nội tâm của nhân vật. Đặc biệt là diễn xuất rất xuất sắc hình tượng người phụ nữ miền Nam. Ánh mắt của chị Tư Hậu, qua diễn xuất của NSND Trà Giang đã và sẽ còn để lại những ấn tượng nghệ thuật đậm nét và lâu bền cho người xem phim.

Phim "Chị Tư Hậu" ngoài giải Bông Sen Vàng trong nước, đã nhận được Huy chương Bạc tại LHP Quốc tế Matxcơva (1963). Bản thân NSND Trà Giang được tuyên dương về diễn xuất. "Bằng ngôn ngữ điện ảnh ấn tượng, giàu cảm xúc, bộ phim "Chị Tư Hậu" đã lý giải một cách tự nhiên và đầy thuyết phục cội nguồn sức mạnh giúp chị Tư Hậu từ một người đàn bà đau khổ, tuyệt vọng đã vượt lên số phận để trở thành người chiến sĩ cách mạng kiên trung. Bộ phim tạo được sự xúc động cho người xem và để lại ấn tượng mạnh về hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh".

Bộ phim thành công, có nhiều người đã đặt câu hỏi, vì sao đạo diễn Phạm Kỳ Nam lại chọn Trà Giang mà không phải là một diễn viên gạo cội nào khác, ông đã trả lời rằng, khả năng thể hiện tình cảm chân thành đã được NSND Trà Giang bộc lộ qua chị Kiên, vai diễn đầu tiên của bà trong phim "Một ngày đầu thu".

Khi đó, đạo diễn Phạm Kỳ Nam chỉ xem bản nháp nhưng ông đã mạnh dạn quyết định chọn Trà Giang. Sau này nghĩ lại, ông cho biết còn một nguyên nhân nữa là do sức biểu cảm mạnh mẽ của đôi mắt Trà Giang. Đôi mắt ấy to, sáng, đẹp, lại như có lửa cháy trong đó và ánh nhìn khiến người ta tin cậy. Khuôn mặt hay hình thể có thể hóa trang cho già dặn hơn nhưng đôi mắt thì không. Mà đôi mắt có thần lại là yếu tố vô cùng quan trọng đối với nghề diễn.

NSND Trà Giang khi được hỏi về những kỷ niệm trong thời kỳ đóng phim "Chị Tư Hậu" đã cho biết, đạo diễn quả thật là rất bạo khi quyết định chọn Trà Giang. Bởi lẽ, với một vai diễn khốc liệt như chị Tư Hậu đòi hỏi phải là một phụ nữ rất bản lĩnh, chưa kể yêu cầu đầu tiên lại phải là người miền Nam mới có khả năng lột tả được hết cái "chất Nam Bộ" của nhân vật này. Trà Giang lại là người miền Trung, theo gia đình ra Bắc tập kết đã lâu nên gần như ai cũng nghĩ bà là người Bắc.

Bà chia sẻ: "Hồi nhỏ, tôi đã từng theo ba mẹ lên vùng kháng chiến, rất gian khổ, nhìn những trận Tây đưa quân đi càn, bắn giết nhân dân. Cảnh ba tôi đi hoạt động, má tôi bị bắt. Tôi cảm nhận được những điều có trong kịch bản và sống thật với tình cảm nhân vật. Tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ ba mình. Cái tên Trà Giang cũng đã có từ lúc tôi sinh ra vào năm 1942. Quê ba tôi ở Quảng Ngãi, có con sông Trà Khúc. Ba lấy mẹ là người Phan Thiết. Tôi sinh ra ở Phan Thiết và cả 6 anh chị em tôi đều được ba mẹ đặt tên về quê hương Quảng Ngãi. Anh lớn là Ấn Sơn (núi Thiên Ấn), rồi đến Trà Giang, Bút Sơn, Thạch Bích…

Tình yêu quê hương của ba đã truyền lửa cho chúng tôi luôn hướng về quê hương mình. Nghề diễn nó lạ thế đấy, mình còn trẻ lại vào vai chững chạc. Thật ra, để vượt qua những khoảng cách về lứa tuổi hay văn hóa vùng miền không phải là khó nhưng cái khó khăn hơn và cũng là bí quyết để vai diễn thành công là nghệ sĩ cần phải sống thật với vai diễn, với cảm xúc.

Có một kỷ niệm gắn bó với phim "Chị Tư Hậu" khiến tôi không bao giờ quên. Đó là trong giờ giải lao phiên họp Quốc hội, một đại biểu đến tìm tôi, bắt tay cảm ơn vì quá cảm kích về nhân vật chị Tư Hậu. Và thật bất ngờ anh ấy xưng chính là... chồng chị Tư Hậu thật ở ngoài đời. Tôi sung sướng đến chảy nước mắt mà không tin được tại sao lại có được sự tình cờ hay đến vậy? Anh còn cho biết các con của chị Tư Hậu cũng quý mến và luôn mong gặp được tôi… Tôi nghĩ, chỉ có làm điện ảnh thì cuộc đời tôi mới có sự gặp gỡ tình cờ như vậy mà thôi".

NSND Trà Giang bên giá vẽ.
NSND Trà Giang bên giá vẽ.

Mười năm sau vai diễn chị Tư Hậu, cũng tại LHP Quốc tế Matxcơva, Nghệ sĩ Trà Giang tiếp tục nhận giải Nữ diễn viên xuất sắc vai Dịu trong phim "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" - (Đạo diễn Hải Ninh). Đến năm 1987, với vai Hương trong phim "Huyền thoại về người mẹ" (Đạo diễn Bạch Diệp), Trà Giang tiếp tục nhận giải diễn viên xuất sắc trong LHP Việt Nam lần thứ VIII. Hương cũng là một hình tượng đẹp về người phụ nữ miền Nam trong đấu tranh.

Tính từ buổi ấy cho đến nay đã hơn 40 năm trôi qua, NSND Trà Giang đã khẳng định được tên tuổi của mình qua 17 vai diễn. Nhiều vai diễn của bà đã mang lại cho nền điện ảnh Việt Nam những hình tượng nhân vật người phụ nữ trong chiến tranh: dịu dàng, tiết hạnh mà quả cảm, can trường… để lại ấn tượng sâu sắc đối với người xem nhiều thế hệ như chị Tư Hậu trong bộ phim cùng tên (1963), Dịu trong "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" (1972), mẹ Thu trong "Em bé Hà Nội" (1974), Nhân trong "Ngày lễ thánh" (1976), Lan trong "Mối tình đầu" (1977), Hương trong "Huyền thoại về người mẹ" (1987), Vợ ba Đề Thám trong "Thủ lĩnh áo nâu" (1987)...

Sau khi hóa thân thành nữ biệt động Cần Thơ hy sinh trên sông Ninh Kiều trong phim "Dòng sông hoa trắng" (Đạo diễn NSND Trần Phương) vào cuối thập kỷ 80, Trà Giang không đóng phim nữa.

Có người bảo bà giữ tiếng, nhưng bà khẳng định không phải vậy. Sau những ngày tháng chiến tranh, đất nước chuyển qua một thời kỳ khác, bà thấy đề tài của những năm đổi mới không còn phù hợp với bà nữa. NSND Trà Giang cho rằng cái duyên trời cho người diễn viên chỉ nên làm vừa "đủ" mắt của khán giả, không nên để khán giả phải vì mình mà cố xem rốn!

NSND Trà Giang có một cuộc hôn nhân trọn vẹn với người chồng là cố Giáo sư âm nhạc Nguyễn Bích Ngọc. Ông vốn là thành viên trong đoàn văn công của cụ thân sinh NSND Trà Giang.

Bà chia sẻ: "Hồi ấy, tôi 25 tuổi, anh Ngọc 27 tuổi. Sau này, tôi đã cảm nhận một cách sâu sắc rằng, tôi đã gặp may khi lấy được anh ấy. Khi chồng tôi còn sống, tôi đã nói điều này với anh bởi tấm lòng, sự hiểu biết và sự hy sinh mà anh ấy dành cho mình. Yêu và lấy nghệ sĩ, anh ấy phải đối diện với nhiều điều ra tiếng vào, kể cả những đồn đại trong giới nghệ sĩ. Nhiều người hỏi anh, có ghen không? Ai mà không ghen, nhưng đã xác định vợ là nghệ sĩ rồi mà. Tôi đã được gặp một người chồng bao dung, đức độ và thương vợ hết lòng. Tôi sinh được duy nhất một người con gái là Bích Trà, ghép tên đệm của mẹ và cha. Bích Trà đã theo nghiệp đàn của bố. Thời bao cấp, nhà nghèo nhưng chúng tôi cũng dành dụm tiền mua đàn piano cho con, nhắc nhở con học hành đến nơi đến chốn và không được lùi bước. Chỉ tiếc là anh Bích Ngọc đã không được chứng kiến thành quả của Bích Trà sau 26 năm xa Tổ quốc và lập nghiệp nơi đất khách, không tận hưởng được hạnh phúc mà anh ấy luôn mơ về con gái mình…".

Hiện nay, hầu hết thời gian của NSND Trà Giang là ngồi bên giá vẽ để chuyển tải những tâm trạng của mình qua cây cọ như là một nguồn tâm sự, sẻ chia cho vơi bớt những cô đơn. Bà thường vẽ với gam màu tím, vàng chủ đạo.

Bà thích vẽ hoa và tĩnh vật; vì ở trạng thái này bà được tĩnh lặng đến cùng với những cảm xúc của mình trong căn phòng ngập sắc màu với những trạng thái dịu nhẹ, gợi cảm xúc buồn, buồn nhưng không tê tái mà là yên bình, sâu lắng. Có một dạo bà lại vẽ nhiều tranh phong cảnh.

Một số bức vẽ phong cảnh nông thôn, có khi là cánh đồng buổi chiều; làng quê trưa nắng hoặc một làng quê biển với ngôi nhà lá nghèo nàn, một lu nước nhỏ đơn sơ... Lúc ấy, gam màu vàng của cát dễ gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người vẽ. Chẳng hạn, vẽ một bãi biển Quảng Trị, gam màu cát vàng chiếm khoảng không gian rộng và màu của nước biển, của trời trải dài nó là sự cảm nhận đầy ấn tượng của bà về vùng quê biển miền Trung.

Hoặc bức "Hoàng hôn trên sông Trà" là màu của ráng chiều lấp lánh, trong khoảnh khắc ánh sáng sắp chìm khuất. Đôi khi thế giới trong tranh đã giúp bà tìm lại những ngõ phố quen thuộc ở Hà Nội lúc chớm thu: Hà Nội với hình ảnh Hồ Gươm và cô gái ngồi một mình dưới tán phượng đỏ. Hình ảnh Hà Nội này rất quen thuộc với nhiều người nhưng NSND Trà Giang lại thích cái sắc màu ấm áp, nhẹ nhàng ấy. Cảnh sắc rất trong sáng nhưng vẫn gờn gợn một nỗi buồn nhẹ, lãng mạn.

Vẽ tranh cũng là cách bà "đi" lại dọc chiều dài đất nước, những nơi mà bà đã dừng chân để hóa thân vào vai diễn của mình... Những bức tranh của bà cũng như những vai diễn và cũng là chính cuộc đời bà, ở vào lứa tuổi nào, thời điểm nào cũng nhẹ nhàng, duyên dáng và điềm tĩnh. Bà khiến chúng ta trân trọng về những thành quả nghệ thuật đầy dấu ấn của một thời vang bóng...

Huy Tuấn

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.