Nón cời có nghĩa anh thương nón cời

Vừa khảo sát lại tài liệu để xem thời bé, các nhà văn nổi tiếng đã học văn thế nào? Họ học ra làm sao để về sau trở thành người giỏi tiếng Việt? Trong khi đó, hiện nay môn ngữ văn đã và đang khiến các em chê ỏng chê eo. 

Có một điều nhận ra, hầu hết đều có mẫu số chung là họ đã được làm quen với vần điệu du dương từ ca dao, tục ngữ, từ Nhị độ mai, Thạch Sanh - Lý Thông, Trần Minh khố chuối… đến Truyện Kiều qua lời ru của mẹ, ông bà, cô, dì, chú, bác. 

Kỳ lạ ghê, dù đang còn nằm nôi hay mới vừa chập chững, lẫm chẫm tập đi thì những lời ru ấy, về sau họ vẫn nhớ như in trong óc. Nó thâm nhập vào óc, vào tim, vào máu như một dưỡng chất để nuôi dưỡng tâm hồn. Lúc cầm bút viết, họ lại nghe vọng lại sự nhịp nhàng, réo rắt. Bất kỳ đứa trẻ nào cũng vậy. Không gì khác. Y cũng thế thôi. Sực nhớ lời mẹ ru:

Vô duyên dầu mặc áo hoa
Áo ra đàng áo, người ra đàng người
Có duyên dầu mặc áo tơi
Đầu đội nón cời duyên vẫn còn duyên

Đã nghe tự bao giờ, sao nay còn nhớ? Lại nhớ đến bài học thuộc lòng cực hay, có nhắc đến một loại nón, nay đố ai nhìn thấy:

Ai bảo chăn trâu khổ nào
Chăn trâu sướng lắm dạt dào niềm vui
Bãi xa, sân rộng, chân đồi
Lưng trâu ngất nghểu, rong chơi khắp làng
Nón mê chẳng khác tàn vàng
Roi tre vung vẫy nghênh ngang một vùng

Nón mê nón cời

Nón mê là nón cũ, rách nát. Mà nón rách cũng gọi nón cời. “Ông già ông đội nón cời/ Ông ve con nít, ông trời đánh ông”. Đánh là phải rồi. Già mà không nên nết. 

Lại nhớ lúc lên trung học, học bài văn tế của cụ Đồ Chiểu, có câu: “Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ”. 

Thế, nón gõ là nón gì? À, loại nón làm bằng tre ghép, vừa vặn cái đầu mà binh lính thời xưa thường đội. Trước đó nữa, người lính nước Nam đội nón dấu. 

Dấu vết ấy, còn lưu lại trong câu ca dao: “Ngang lưng thì thắt bao vàng/ Ðầu đội nón dấu vai mang súng dài” - một loại nón cũng bằng tre nhưng trên đỉnh có chóp. Lại nhớ, nhà văn Khái Hưng  với tập truyện ngắn Đội mũ lệch. Cái mũ, hiện nay đã quá quen thuộc, thế nhưng từ bao giờ người Việt… đội mũ?

Câu hỏi nghiêm túc cứ nghe như đùa. Đã lâu lắm rồi, mua được bộ Công nghệ mới Việt Nam (4 tập) của Tòa Tu thư Phủ Thống sứ Bắc Kỳ do Phượng Nam soạn thập niên 1930, trong đó có đoạn: “Đầu thế kỷ XX, khi sang giao thương làm ăn tại Việt Nam, người ngoại quốc vẫn đội thứ mũ làm vải mềm. Loại mũ này gọn, nhẹ và mát. Trong khi đó, người Việt Nam ta dù mặc Âu phục hoặc khăn đóng áo dài thì vẫn đội khăn xếp hoặc che dù hoặc đội nón. Nhận thấy loại mũ này nhiều ưu điểm nên ta dần dần sử dụng theo, nhưng phải mua của người nước ngoài, dù vậy hàng vẫn không đủ bán. Khoảng từ năm 1912, ông Crévost là Chánh viện Bảo tàng Maurice Long đã truyền nghề làm mũ bằng vải cho ông Nguyễn Như Khuê tại Hà Nội. Ông Khuê sau khi học được nghề đã truyền lại cho nhiều người khác và mở cơ sở sản xuất tại Hà Nội”. Thông tin chỉ có thế.

Thế thì, câu thành ngữ “Mũ ni che tai” ra đời từ lúc nào? Khỏi cần dài dòng, ai cũng hiểu rõ nghĩa bóng, đại khái chỉ thái độ cầu an, giả điếc làm ngơ hoặc không quan tâm những sự việc xảy ra xung quanh, nói cách khác là không can thiệp, không ý kiến ý cò, không tọc mạch, không thèm quan tâm tìm hiểu chuyện thiên hạ, ai nói/ làm gì cũng mặc, cứ “phớt tỉnh Ăng lê”. 

Mũ ni có phải là loại “mũ làm bằng len, sợi, có diềm che kín tai, thường dùng cho người già” như Đại từ điển tiếng Việt giải thích? Đúng thế, nó còn là loại mũ dành cho người xuất gia, tu hành, truyện thơ Nôm Nhị độ mai có câu: “Gác ngoài phú quí một tràng/ Mũ ni, tràng hạt, quyết đàng xuất gia”.

Với y, một điều đáng ngạc nhiên, có thể liệt kê ra thêm nhiều loại mũ nhưng tại sao từ điển nước nhà lại không ghi nhận nón mũ cối/ nón cối? 

Trước năm 1975, nếu từ điển in ấn trong Nam không ghi nhận đã đành nhưng từ điển ngoài Bắc cũng chẳng khác gì. Thậm chí, Đại từ điển tiếng Việt (1999) của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng quên nốt. Có thật không đấy?

Hãy xem ở phần mũ, chỉ có: mũ bạc, mũ biên phòng, mũ bê-rê/ mũ nồi, mũ bình thiên, mũ bịt tai, mũ cánh chuồn, mũ cát-két/ mũ lưỡi trai, mũ chào mào/ mũ ca lô, mũ mãng, mũ mấn, mũ miên, mũ phớt, mũ tai bèo, mũ trụ; phần nón chỉ có: nón bài thơ, nón chân tượng, nón chóp, nón cời, nón cụt, nón dấu, nón dứa, nón gõ, nón lá, nón mê, nón ngựa, nón quai thao, nón thúng, nón tu lờ. 

Rõ ràng, không chỉ mũ cối/ nón cối mà còn nhiều loại khác cũng đã bị bỏ sót. Về cái nón cối/ mũ cối ấy đã đồng hành trong cuộc chiến tranh dài đằng đẵng, do đó, quên loại nào không sao chứ nếu quên nó thì e khó chấp nhận.

Sau khi đã mày mò, mọt sách qua nhiều quyển từ điển vẫn không tìm thấy, may quá, gần đây Phương ngữ Nam Bộ (2015) của nhà nghiên cứu Nam Chi Bùi Thanh Kiên có ghi nhận: “Nón cối: a. Loại nón cứng trũng lòng, đáy tròn làm bằng cây mướp sác bào mỏng dán lại, ngoài phất vải kaki dày; b. làm bằng nhựa cứng, phất kaki xanh chế tạo ở miền Bắc”. 

Cách giải thích này, ta bàn sau nhưng đáng quý là đã được nhắc tới nón cối.

Nhân đây, nói luôn, một khi ai ai cũng gọi nón cối/ mũ cối thì Bách khoa từ điển quân sự Việt Nam (NXB Quân đội nhân dân-2004) do Bộ Quốc phòng biên soạn lại gọi “nón cứng”. 

Đọc và hiểu rằng, nó có hình dáng gọn, quả mũ hình bán cầu, xòe ra ở phần tán; đại khái thời “chín năm” được làm bằng phương pháp thủ công, đan bằng nan tre, ngoài lợp vải dù, quai bằng sợi dây dù, còn gọi “mũ nan”. 

Sau năm 1975, ở miền Bắc đã có xưởng sản xuất, cốt mũ làm bằng gỗ xốp nhẹ hoặc bằng bột giấy ép định hình trên khuôn nhôm, bên ngoài cốt lợp vải chéo, trong lòng được sơn và gắn cố định vành cầu bằng cốt tre đan có bọc bên ngoài. Tất nhiên có quai bằng da hoặc vải giả da. Về sau nữa, nó lại cải tiến công nghệ là làm bằng bột gỗ, có keo tổng hợp chống thấm…

Chuyện trong ký ức

Những ai đã từng đi bộ đội ắt có tình cảm, cảm nhận về cái mũ cối/ nón cối này. Cụ thể ra làm sao? 

Hãy nghe nhà biên kịch Đoàn Tuấn tâm tình vài kỷ niệm của người lính thời chiến tranh Tây Nam: “Khi qua suối qua sông, lính vục mũ, múc nước, ngửa cổ uống ngon lành. Có thể chuyền tay nhau uống nữa. 

Khi đi cải thiện, hái rau rừng, mũ biến thành cái rổ. Nhỏ xinh. Khi đi tắm, mũ biến thành cái chậu đựng đồ. Tuy không có xà phòng, nhưng áo quần vẫn thơm phức mùi mồ hôi dầu của lính. 

Đang hành quân, dừng nghỉ, ngay lập tức, lính ngả mình trên đất, ngửa mũ ra, làm thành cái gối. Mái đầu nằm gọn phía trong, lại có vành mũ như tấm rèm che nắng, kém chi giấc ngủ nơi thiên đường. Cũng có người úp mũ xuống đất, gối đầu lên. Giấc ngủ kéo đến liền. Lạ thay, anh ta cứ ngủ vậy. Không trở mình sang phải hay trái.

Ở An Lungvieng, khi trung đội vận tải không còn xoong lấy cơm (vì khi đi truy quét, đêm ngủ, nước lũ tràn về, xoong chậu trôi đi hết), lính phải mang mũ cối đi lấy cơm. Có sao đâu! Nhưng đôi lúc, mũ biến thành vũ khí.

Khi ở Choăm Sre, thấy hai lính uýnh nhau, cầm mũ cối xông vào, đập loạn xạ. Đại trưởng cầm AK, lia một loạt lên trời, cả hai mới tạm ngưng chiến. Nhưng đến tối lại ôm cái mũ vào lòng và ngồi uống... hà thủ ô bên nhau. Lính là thế!

Có điều mũ cối của ta tồi, không bền. Mới dùng mấy tháng, vải đã sờn, mép đã quăn, rạn vỡ. Minh sứt xé hết vành, còn lại cái chỏm, chụp lên đỉnh đầu. Đính vài cái lông con công lên. Trông như nhà ảo thuật. Hành quân qua phum, dân trố mắt. Trẻ con cởi truồng chạy theo, cười reo. Minh sứt gườm gườm nhìn. Trợn mắt. Lũ trẻ khóc thét. Minh lại nhe răng cười. Đùa tí cho vui.

Có lính mới về. Hôm trước đến đơn vị. Hôm sau đã hy sinh. Kiểm nghiệm di vật tử sỹ. Ba lô, quần áo thì gửi về gia đình. Mũ thì giữ lại. Anh em không có mũ tranh nhau. Đời lính ngắn hơn đời mũ. Hôm đi với C7, lính vướng mìn. Y tá Vương nhăn mặt. Nhặt nhạnh những mảnh thịt bay tứ tung, trộn đầy đất cát, bỏ vào mũ cối. 

Về nấu nước nóng, rửa sạch, chôn cùng tử sỹ. Sau đó, mới rửa mũ. Không có xà phòng, lấy cỏ và lá rừng chùi cho đỡ mùi tanh. Đội tiếp. Có thấy gì đâu! Mũ lính, một hình dạng, mà có đủ thứ mùi. Mùi nào cũng thân thương”.

Nghe bạn nhắc lại, chao ôi, lại nhớ về một thời đã xa. Rưng rưng. Nhớ lại những câu thơ của một thời đã viết: “Câu thơ nào ghi nguệch ngoạc/ Trong trang nhật ký đường rừng/ Sau phút giải lao vội vã/ Xốc ba lô lại hành quân/ Câu thơ nào ghi vành mũ/ Đỏ ngời trận đánh đầu tiên/ Đâu cần biết ngày nhớ tháng/ Kỷ niệm đã có tên riêng”. 

Tiếc thời ấy, y chẳng có điều kiện chụp tấm hình đội nón cối thiệt oách xà lách, nay có thể khoe chơi. Cũng tiếc nốt khi đã không còn giữ lại cái nón cời của mẹ, sau ngày mẹ mất. Thôi thì, hãy đọc lại câu ca dao:

Có duyên dầu mặc áo tơi
Đầu đội nón cời duyên vẫn còn duyên

Thú thật, y cũng cực kỳ có tình cảm với chiếc nón cời. Một phần biết đến nó do từ lời ru của mẹ, mà cũng do sau này đọc tập phóng sự Tôi kéo xe của nhà văn Tam Lang. 

Lâu quá rồi, sách không tái bản. Hôm nọ đồng nghiệp ở NXB Văn Học có điện thoại nhờ y bằng mọi cách liên hệ với gia đình nhà văn để bàn về bản quyền tái bản. Chịu chết. Không thể mày mò ra manh mối. 

Trong quyển này, Tam Lang đã liệt kê ra tám cái lợi ích từ chiếc nón cời của giới phu xe. Càng đọc càng thương hạng người nghèo. Cái khó ló cái khôn. Họ đã tận dụng được biết bao lợi ích, nay, chắc gì ai có thể hình dung ra nổi.

Lục đọc lại lần nữa đi. Tự dưng rưng rưng. Hạng người nghèo thời nào cũng tội nghiệp. Nghèo quá mà yêu lấy nhau thì sao? Có tội nghiệp không? Không hề, lại cảm thấy vui vui nếu như họ hạnh phúc, chan chứa tình cảm thủy chung. 

Trải qua hàng ngăn năm trên đồng cạn dưới đồng sâu, sau lũy tre làng đã hình thành nên những cuộc tình bình dị như ca dao, như lời ru của mẹ: “Thân em như cái nón cời/ Như cái áo rách vá thời chưa may/ Chẳng lo gì áo rách tay/ Trời kia ngó lại vá may lại thường/ Áo rách có cách anh thương/ Nón cời có nghĩa anh thương nón cời”. Đọc lại lần nữa đi. Tự dưng bùi ngùi.

Thương quá.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Nếu họa sĩ Nguyễn Thế Sơn kể chuyện Hà Nội bằng nhiếp ảnh phù điêu thì kiến trúc sư Trần Huy Ánh tiếp cận thành phố bằng trực giác của người “khảo cổ” đô thị. Cuộc đối thoại về những ký ức đô thị trong triển lãm “Những ngã rẽ” đang diễn ra ở ngôi biệt thự Pháp cổ ở Hà Nội gợi mở nhiều suy tư về hồn cốt của đô thị, về di sản trong cơn lốc đô thị hóa hiện nay.

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Mối quan hệ Nga - Syria đang bước vào một giai đoạn mới, khi chuyến thăm mới nhất của Tổng thống lâm thời Syria tới Moscow đi cùng những cam kết được đánh giá là "món quà địa chính trị" dành cho Điện Kremlin. Trong bối cảnh các cục diện quyền lực ở Trung Đông tiếp tục dịch chuyển, những thỏa thuận này không chỉ mang ý nghĩa song phương mà còn phản ánh chiến lược dài hơi của Moscow trong việc củng cố vị thế khu vực và đối trọng ảnh hưởng phương Tây.

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Chưa từng có cuộc chiến nào trong lịch sử hiện đại lại cướp đi mạng sống của nhiều nhà báo như ở Gaza. Chỉ trong 2 năm, hơn 200 phóng viên và nhân viên truyền thông đã ngã xuống, biến vùng đất nhỏ bé ven Địa Trung Hải thành nơi nguy hiểm nhất hành tinh cho tự do báo chí. Không chỉ là chết chóc, Gaza còn là minh chứng cho một sự thật đáng sợ khác: khi nhà báo bị giết, thế giới sẽ bị tước đoạt quyền được biết.

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Cuộc biểu tình với hơn 100.000 người tham gia tại London vừa qua đánh dấu bước ngoặt mới của phe cực hữu trong việc đưa vấn đề nhập cư thành trung tâm chú ý trên chính trường Anh. Mặc dù những người biểu tình khẳng định đất nước đang "bị xâm lược", nhưng đằng sau những khẩu hiệu mạnh mẽ ấy là gì? Liệu đó có phải là sự thật hay chỉ là chiến lược chính trị của một phong trào đang lớn mạnh?

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

"Buồn" và "shock" là những gì mà cộng đồng nhận xét về vụ nam sinh lớp 7 túm tóc, nhấn đầu cô giáo ngay trong lớp học ở trường THCS Đại Kim, Định Công, Hà Nội. Trớ trêu thay, vụ việc đó lại xảy ra ngay sau khi Thông tư 19 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khen thưởng và xử phạt học sinh vừa được ban hành.

Bạn thân yêu

Bạn thân yêu

Ta thường nghe câu "Đời chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ". Thế mà có những mối quan hệ người trao đi không hy vọng gì nhận lại, bởi hoàn cảnh người nhận như tận cùng của hoạn nạn.

Phỏng vấn một KOL

Phỏng vấn một KOL

PV: Xin chào anh KOL! Anh cho độc giả một hình dung ngắn gọn về công việc của mình được chứ?