Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga từ ngày 7 đến 9/9.
Chuyến thăm thể hiện ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng khi đây là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga đầu tiên của người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta kể từ năm 1991, nhất là diễn ra ngay sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng và bầu cử Quốc hội khóa XVI.
Từ nền tảng hữu nghị đến những kết quả hợp tác thực chất
Mối quan hệ Việt - Nga có cội nguồn từ hơn một thế kỷ trước, gắn với hành trình tìm đường giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1923, Người lần đầu đặt chân tới nước Nga Xô viết - quê hương của Cách mạng Tháng Mười - trong hành trình tìm đường giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, phong kiến.
Gần ba thập kỷ sau, ngày 30/1/1950, Liên Xô trở thành một trong những quốc gia đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện sự đoàn kết, ủng hộ đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô. Sự giúp đỡ toàn diện, to lớn và quý báu đó là một nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng Tổ quốc.
Nhân dân Nga cũng không quên những người con ưu tú của Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ thủ đô Moskva trong giai đoạn ác liệt của Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945).
Sau năm 1991, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga được kế thừa và tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Nhằm tạo khuôn khổ pháp lý mới cho quan hệ song phương, năm 1994, hai nước ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị, được xây dựng trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập và chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi dựa trên luật pháp quốc tế.
Năm 2001, nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Vladimir Putin, hai nước ký Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga, đưa Nga trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập khuôn khổ Đối tác chiến lược với Việt Nam, tạo nền tảng cho hợp tác trong thế kỷ XXI. Năm 2012, quan hệ hai nước được nâng lên mức Đối tác chiến lược toàn diện.
Các khuôn khổ hợp tác được thiết lập qua từng giai đoạn tạo cơ sở để quan hệ hai nước thích ứng và phát triển trong tình hình mới. Tháng 5/2025, hai bên thông qua Tuyên bố chung về những định hướng lớn của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn hợp tác mới.
Ngay sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng ta, Tổng thống Vladimir Putin là nguyên thủ nước ngoài đầu tiên có cuộc điện đàm với Tổng Bí thư Tô Lâm chúc mừng thành công của Đại hội và tiếp Đặc phái viên của Tổng Bí thư, Bộ trưởng Ngoại giao sang thông báo về tình hình Đại hội XIV. Tháng 6/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Nga tại Kazan (Liên bang Nga). Nhiều đoàn các bộ, ngành và địa phương hai nước cũng có những chuyến thăm, trao đổi.
Những hoạt động đó góp phần củng cố quan hệ chính trị, đồng thời tạo thêm kết quả cụ thể trên nhiều mặt hợp tác. Kim ngạch thương mại song phương năm 2025 đạt 4,77 tỷ USD, trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 3,24 tỷ USD. Xuất khẩu của Nga sang Việt Nam gồm thực phẩm, dược phẩm, nguyên liệu, khoáng sản, máy móc, thiết bị tiếp tục tăng, trong khi hàng dệt may, điện tử, trái cây, rau quả và các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ngày càng được người tiêu dùng Nga yêu thích, đón nhận.
Hợp tác năng lượng, dầu khí tiếp tục là một trong những lĩnh vực quan trọng. Vietsovpetro tại Việt Nam và RusVietpetro tại Liên bang Nga có nhiều đóng góp vào phát triển kinh tế mỗi nước, đồng thời là những mô hình hợp tác tiêu biểu giữa hai bên.
Du lịch cũng phục hồi mạnh mẽ. Lượng khách Nga đến Việt Nam năm 2025 đạt trên 690.000 lượt; trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt trên 863.000 lượt, tăng 174% so với cùng kỳ năm ngoái và cao hơn hai lần so với trước đại dịch. Khách Việt Nam đến Nga trong 6 tháng đầu năm nay cũng tăng 21,4%.
Trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục, Lễ hội Văn hóa Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại Quảng trường Đỏ vào tháng 7/2025, thu hút hơn một triệu lượt khách Nga và quốc tế. Năm 2026 là Năm Hợp tác khoa học - giáo dục Việt - Nga, với hơn 100 hoạt động được tổ chức, mang lại nhiều thỏa thuận hợp tác thực chất.
Xung lực mới cho giai đoạn hợp tác mới
Liên bang Nga luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, còn đối với Liên bang Nga, Việt Nam từ lâu đã là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Chuyến thăm cấp Nhà nước lần này tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vì thế khẳng định sự nhất quán, kế thừa và coi trọng cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với quan hệ hữu nghị truyền thống với Liên bang Nga; đồng thời là minh chứng sinh động cho thấy, dù thế giới ngày nay biến động, thay đổi nhanh chóng, quan hệ thủy chung Việt Nam – Liên bang Nga vẫn luôn bền chặt.
Có thể nói, trong tổng thể quan hệ hai nước, tiếp xúc cấp cao giữ vai trò định hướng chiến lược, củng cố tin cậy chính trị và tạo cơ sở để các bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa những thỏa thuận đạt được thành các chương trình, dự án hợp tác. Đây là một trong những kênh quan trọng để hai bên trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm, thống nhất các định hướng phù hợp với yêu cầu phát triển của mỗi nước.
Trên cơ sở đó, chuyến thăm được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến đột phá trong các trụ cột hợp tác truyền thống; đồng thời mở rộng sang những lĩnh vực mới, có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Hai nước có nhiều điều kiện để phát huy những thế mạnh bổ sung cho nhau. Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế, có nền kinh tế năng động và nguồn nhân lực trẻ; trong khi Liên bang Nga có thế mạnh về khoa học cơ bản, công nghệ cao và nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn.
Các lĩnh vực dầu khí, năng lượng, trong đó có điện hạt nhân, tiếp tục là những trụ cột quan trọng, đồng thời có thể trở thành điểm tựa để mở rộng sang các dự án công nghệ cao, nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực.
Trong kinh tế, thương mại và đầu tư, dư địa còn lớn. Năm 2026 đánh dấu 10 năm Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu có hiệu lực, tạo thêm điều kiện để hai bên mở rộng thị trường, thúc đẩy đầu tư và tăng cường kết nối kinh tế. Các doanh nghiệp hai nước đang tích cực tìm kiếm cơ hội, mở rộng hoạt động tại thị trường của nhau.
Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục - đào tạo cũng là những lĩnh vực có nhiều triển vọng. Hai bên có thể tăng cường các chương trình nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học, y sinh, dược phẩm và chế tạo máy.
Việc thúc đẩy xây dựng Trung tâm Khoa học và công nghệ hạt nhân tại Việt Nam, phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, Viện Liên hợp Nghiên cứu hạt nhân Dubna, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các viện nghiên cứu, trường đại học hai nước sẽ góp phần đưa hợp tác khoa học - công nghệ đi vào chiều sâu. Những thành tựu hợp tác trong lĩnh vực vũ trụ, mà chuyến bay vào vũ trụ của Anh hùng Phạm Tuân năm 1980 là một dấu mốc tiêu biểu, cũng tạo cơ sở để hai bên tiếp tục nghiên cứu, mở rộng hợp tác vì mục đích hòa bình.
Cùng với đó, việc củng cố nền tảng xã hội và nhân văn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của quan hệ hai nước. Hai nước sẽ thúc đẩy giảng dạy tiếng Việt và tiếng Nga; trao đổi sinh viên, giảng viên, nghệ sĩ trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, vận động viên thể thao thành tích cao; tăng cường hợp tác điện ảnh, du lịch và giữa các địa phương; đặc biệt, phát huy vai trò của các hội hữu nghị, cựu sinh viên và cộng đồng người Việt Nam tại Liên bang Nga.
Việc mở rộng quan hệ sang các lĩnh vực mới, đồng thời nâng cao hiệu quả những cơ chế và lĩnh vực đã có, sẽ góp phần đưa quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga phát triển thực chất, đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi nước, đồng thời đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện ngày càng đi vào chiều sâu.