Nhớ bốn mùa

Giống người, đặc biệt là cái nòi thi sĩ, là cứ hay... nhớ! Nhớ đủ thứ. Nhiều khi chính mình cũng chả biết rõ rệt là mình đang nhớ ai, nhớ cái gì!

Nhớ cháy lòng, nhớ như bào ruột bào gan, nhớ quay quắt, nhớ đau đáu, nhớ bồn chồn, nhớ bồi hồi, nhớ khắc khoải, nhớ da diết... thì còn có thể tìm nguyên cớ, chứ cái nhớ chỉ là... nhớ thôi, thì chả hiểu ra làm sao!

Nó cứ bảng lảng trong người như là mây bảng lảng trời Thu, như là sương bảng lảng chiều Thu, như là bóng ai chập chờn trong giấc mộng Thu, mờ mờ nhân ảnh, khó trông cho thật rõ ràng. Cái nhớ ấy làm cho người ta thấy váng vất. Bảo là ốm thì chưa phải mà bảo là khỏe, cũng chưa!

Gọi là nhớ miên man, nhớ man mác, cũng chả biết là có đúng hay không? Âu đó cũng là một thứ bệnh- bệnh nhớ? “Nắng mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. “Tương tư” nghĩa là “nhớ nhau”, chả phải người ta có “bệnh” nhớ là gì? Ốm vì nhớ! Bổi hổi, bải hoải ra vì nhớ! Nào biết làm thế nào? Thật chả ra làm sao!

Nhưng nếu không nhớ nữa, tuyệt nhiên không nhớ nữa, ta thành ra cái gì? Không ký ức, không kỷ niệm, không kỷ vật, không có gì để “Những ngày buồn nghĩ tới lại vui vui/ Những ngày vui nghĩ tới lại ngùi ngùi”, thì còn không bằng hòn đá... vọng phu! Người ta sinh ra rồi lớn lên vì biết, trong đó có biết nhớ. “Từ khi tôi biết nhớ”, bao người đã mở đầu khi kể hay viết về thời thơ ấu của mình như vậy. Sao không thử một lần, đi tìm ngọn nguồn cái “bệnh” nhớ của mình xem sao?

Vì lúc đầu ta đã sớm nói tới mùa Thu nên ta bắt đầu từ Thu vậy! Hay là “bệnh” nhớ đi ra từ mùa Thu, từ cái lúc ta “bưng tiếng khóc ban đầu mà ra” đến giờ-“Gió mùa Thu mẹ ru con ngủ/ Năm canh chầy thức đủ vừa năm”? Hay là đi ra từ cái chỗ mà cứ hễ Thu sang là mẹ ta, chị ta, em gái ta, cô láng giềng nhà ta…, lại ngồi đan áo, nhất là những ai có người thân sắp vào cữ rét, xứ rét -“Người đưa thư rẽ sang ngõ khác/ Để người mắc lỗi với kim đan”?

Nói đến rét thì lại nhớ Đông ngay! Là vì Thu Việt đến chậm, lá Thu chưa vàng, nắng Thu còn “rám vỏ bưởi”, mà cái nòi thi sĩ vốn nhạy cảm hơn người, vốn “thông thiên” hơn người, vốn mang trong mình cái “bệnh” nhớ kinh niên, nên “Đã nghe rét mướt luồn trong gió!”. Nghe được “rét mướt” thì Một, Chạp đã ở ngay trước mặt. Một, Chạp trước mặt là Tết đến ngõ rồi, là đã nhớ cái cảnh “Rửa lá dong xanh đám gái làng/ Dìu dịu như ngà, như nếp trắng/ Buộc người như những sợi lạt dang” rồi. “Lạt này gói bánh chưng xanh/ Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng”.

“Mai trúc” tức là “Thanh mai trúc mã”, tức là trỏ việc thân gần trai gái từ thuở thiếu thời, thời còn tranh nhau quả mơ xanh (thanh mai) ngõ cổ, thời còn cùng cưỡi ngựa tre (trúc mã) sân cũ hè xưa. Rồi Tết đến thật và Giêng, Hai về- “Mùa Xuân là cả một mùa xanh/ Giời ở trên cao lá ở cành/ Ra khỏi cổng làng tôi chợt thấy/ Bắt đầu là cái thắt lưng xanh”.

Sao lại “Bắt đầu là cái thắt lưng xanh”? Không biết! Cái nòi thi sĩ họ viết thế! Thì biết thế! “Văn chương tự cổ vô bằng cớ”, đâu phải triết học, chính tả /ngữ pháp hay văn tự pháp đình? Giêng, Hai hết thì mùa rau khúc cũng tàn, dù là khúc tẻ gầy gò mốc trắng như cây sen đá hay là khúc nếp mập mạp xanh màu đậu xanh luộc và trổ hoa vàng. Ăn bánh khúc thì đã lại nhớ tháng Ba, nhớ Hạ, rồi!

Tháng Ba ta là cái tháng kỳ lạ: “Rét tháng Ba bà già chết cóng”, nhưng lại có “Nắng tháng Ba chó già lè lưỡi”! Rét ở đây, là “Rét nàng Bân”. Nắng ở đây, là “Nắng mới”. Nhớ Hạ, lại nhớ mưa rào: “Trời mưa bong bóng phập phồng/ Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai?”. Sao mà khổ thế? Để khỏi phải khổ thế, thì “chả đi lấy chồng nữa”. Nhưng “chả đi lấy chồng nữa”, một mình một bóng thì kìa, Hạ hết Thu về, trong khi “Ngoài hiên giọt mưa Thu thánh thót rơi”, rồi biết làm thế nào? Còn biết làm thế nào nữa? Vì có thể lại còn khổ hơn cả “chả đi lấy chồng nữa”: “Thiếu chồng, giặt áo đêm Thu/ Chày kêu sương lạnh, trăng mờ trên non/ Đêm dài, dạ héo gan mòn/ Đêm dài, muôn tiếng chày buông thẫn thờ/ Sáng ra, đầu bạc như tơ/ Mỗi chày, một sợi tóc vừa thôi xanh”.

Đấy, vừa nói được mấy câu, Thu đã “tái lai” rồi! “Sen tàn cúc lại nở hoa...”. Thế là bốn mùa- tứ quý- cứ lừ lừ xoay vần và lòng người ta chẳng bao giờ thôi nhớ. Nhớ chết đi được! Càng thương lại càng nhớ: “Nhớ chàng dằng dặc đường lên bằng trời/ Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu/ Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”. Càng nhớ lại càng buồn: “Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối/ Muộn đong đầy, hãy thổi thành cơm/ Mượn hoa, mượn rượu giải buồn/ Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi”!

Buồn, nhớ mãi thì “bấm đốt ngón tay”: “Thuở lâm hành, oanh chưa bén liễu/ Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca/ Nay quyên đã giục oanh già/ Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo/ Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió/ Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông/ Nay đào đã quyến gió đông/ Tuyết mai trắng bãi, phù dung đỏ bờ”. Ngóng một, hai, rồi ba năm: “Thử tính lại diễn khơi ngày ấy/ Tiền sen này đã nảy là ba”! “Tiền sen” là cái lá sen non vừa xòe ra bằng đồng tiền cổ trên mặt nước bể cảnh nhà khá giả, tức là trỏ cuối Xuân đầu Hạ. “Lâm hành”, “đăng đồ”, “diễn khơi” đều là để trỏ cái việc đi xa, từ biệt. Mà “sinh ly, tử biệt” là hai việc khiến người ta đau lòng khôn xiết! Đấy, mới chỉ là nói đến “sinh ly”, mà đã “chán” thế rồi!

Buồn, nhớ mãi nữa thì trách: “Tin thường tới, người chưa thấy tới/ Bóng rèm thưa lần giãi bóng dương/ Bóng dương mấy buổi xiên ngang/ Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai”, “Tin thường lại, người chưa thấy lại/ Hoa dương tàn đã trải rêu xanh/ Rêu xanh mấy lớp xung quanh/ Chân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ”. Trời ơi! Viết về nhớ thương/ thương nhớ, về cái cảnh “Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây” hay thế mà vẫn sống được, thì lạ thật! Viết hay đến thế thì chết luôn mới phải chứ?

“Ai về Bắc/ Ta theo với!/ Về lại non sông giống Lạc Hồng/ Từ buổi mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”, là thơ trăm phần trăm. Đấy là nỗi nhớ to, nỗi nhớ của thi sĩ- tướng quân.

Nhưng hãy nghe nỗi nhớ bé, “tầm thường”: “Cho đến một ngày kia… đang ngồi trong một tiệm ăn hẻo lánh ở bên sông Tân Thuận, trận mưa đầu mùa trút nước xuống phố phường. Những người Bắc Việt ngồi ở những bàn ăn gần đó nhìn mưa mà lòng thấy thẫn thờ, mà thấy bơ vơ, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi bầu không khí nặng nề lúc đó, bèn kiếm ra một câu gì đó để nói. Một người bảo: “Ở Bắc, có lẽ bây giờ cũng mưa đầu Hè đấy nhỉ?”. Một người khác: “Thế nhưng mưa ở Bắc, nó khác kia, bà ạ!”. Một người nữa: “Cái gì cũng khác hết. Thôi đừng nói nữa, tôi muốn khóc đây!”.

Người bạn phương trời liếc nhìn ông bạn trai đứng cạnh: hai người im lặng chẳng nói, vì nói chẳng ra lời, nhưng cũng cảm thấy như có một thứ điện kỳ lạ truyền cảm đi khắp người. Thì ra không cần nhiều: chỉ một câu nói rất tầm thường vào một buổi chiều mưa gió đìu hiu cũng gợi lên được những ấn tượng rầu rĩ trong một tấm lòng có mối xông”! Văn xuôi đấy, nhưng vì đâm ra từ cái gốc người nên nghe xong lại thấy cũng là thơ trăm phần trăm. Chao ôi! Hóa ra, cái “tấm lòng có mối xông” sẵn kia; “có mối xông” bao năm ròng, bao đời ròng; “có mối xông” truyền kiếp, mới ứa ra thơ hay, dù dưới dạng văn xuôi, không cầm được, không thuốc thang/ bông gạc nào cầm được!

Hóa ra, cái nòi thi sĩ, lúc nào cũng nhớ thương, lúc nào lòng cũng như cây gỗ cũ “có mối xông”, trông ngỡ lành mà gõ nhẹ vào là vỡ! Đó là nỗi nhớ thường trực, “cấu nhiều đau hơn đạp”, trong lòng thi sĩ. Lòng thi sĩ lúc nào cũng mỏng manh một cách trầm trọng như thế, “mỏng như vỏ trứng” còn chưa là gì! Thi sĩ, lúc nào mà chả như cái ông nhà văn/ thi sĩ Bắc kỳ Vũ Bằng, đang “ngồi trong một tiệm ăn hẻo lánh ở bên sông Tân Thuận” mà nhìn mưa, nghe mưa? Thì đấy!

Vợ chồng lấy nhau mãi rồi, như là “duyên phận”, như là “mặc định” rồi, thế mà một ngày, thơ ứa ra: “Không có em bên cạnh/ Đường xa gấp hai lần/ Không có em săn sóc/ Ghẻ lở mọc đầy thân/ Nhưng có em bên cạnh/ Việc to thường không thành/ Thôi thì đi xa vậy/ Bất kiến, bất vong tình”! Nói là nói thế, chứ có “việc” gì “to” thật đâu? Chẳng qua là vì trong lòng trót “có mối xông” nên nói thế. Ô kìa, nhưng “có mối xông” trong lòng mà lại là “chuyện nhỏ” ư?

Bên tây, người ta bảo: “Nếu anh lấy được một người vợ tốt, anh là người hạnh phúc, nhược bằng ngược lại, thì anh sẽ thành nhà triết học!”. Là “nhà triết học” thì đơn giản quá, cả đời chỉ quẩn quanh có vài ba câu hỏi: “Ta là ai?”, “Thế giới là cái gì?”..., mà không hề hỏi rằng, “Lòng có mối xông là thế nào?”, “Sao tự dưng lòng lại có mối xông?”, “Sao người ta lại luôn có mối xông trong lòng?”, “Ai có thể, lúc nào có thể, thấy và chữa được bệnh có mối xông trong lòng?”v.v... Nhưng vì “có mối xông” trong lòng, người ta mới biết yêu, biết nhớ nhiều hơn người thường. 

Cũng ông Vũ Bằng, nằm Nam nhớ Tết Bắc, ông viết: “Nằm ở nơi đây là đất mà có người ca ngợi rằng mỗi khi Tết đến, “dưa hấu chất cao hơn nóc chợ”, người ta nhớ đến cái mưa Xuân bay nhè nhẹ như hôn vào môi, vào má người ta, thay thế cho cái mưa phùn đem buốt lạnh thấm vào da vào thịt; nhớ những con đường hoa láng láng, thơm thơm như có bàn tay ai lau rửa thay thế cho cái lầy lội, ướt át kéo dài từ tháng Một sang đến thượng tuần và trung tuần tháng Chạp; nhớ những hoa mận, hoa đào đú đởn múa may trước gió hiu hiu thay thế cho những cành khô nghèo nhựa nằm chết chóc trong giá rét trước ngày Đông chí.

Tài thế, Lập Xuân rồi là thời tiết đổi thay liền!... Xuân, tức là Xuẩn, nghĩa là cựa/ động, muôn vật đến mùa ấy là cựa/ động mà sống dậy. Người đàn bà trời đã cho đẹp, Lập Xuân rồi tự mình cũng thấy mắt biếc hơn, má hồng hơn, ngực tròn hơn và cảm thấy như nhấp một thứ men nồng làm cho lòng phơi phới..., thậm chí đến bậc lão đại, bạc cả mái đầu, thấy hoa Xuân hé miệng ra cười cũng cảm thấy con tim muốn nói lời thê thiết: “Ai ơi chơi bấy kẻo chầy/ Xem hoa bốn mắt, đi giầy ba chân?”..., yêu nhất là những ngày giáp Tết, thời tiết sao mà đĩ thế, con mắt tấm lòng sao mà đong đưa thế, lời nói tiếng chào sao mà duyên dáng tơ mơ thế!”.

Hóa ra, càng nhớ, càng mong, càng “có mối xông” trong lòng..., thì lại càng thèm yêu những lúc đẹp của cuộc sống, dù đó là cái đẹp to hay cái đẹp mảy may. “Có thì có tự mảy may/ Không thì cả thế gian này cũng không”.

Xuân, Tết, bốn mùa, ta “có” hay là “không” nhớ đây?

Đỗ Trung Lai

Các tin khác

Bài 2: Cần màng lọc hiệu quả để chặn phim rác AI

Bài 2: Cần màng lọc hiệu quả để chặn phim rác AI

Sự phát triển nhanh chóng của phim ngắn AI đang tạo ra một nguồn cung nội dung khổng lồ với chi phí sản xuất thấp, có sức hút lớn đối với người xem. Nhưng khi tốc độ, số lượng phim sản xuất không tỷ lệ thuận với chất lượng và quá nhiều sản phẩm đơn giản, lặp lại, thiếu giá trị tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi người xem thì một “màng lọc” đủ hiệu quả là bài toán cấp thiết.

Bài 1: Những thước phim vài phút và cái giá không chỉ tính bằng tiền

Bài 1: Những thước phim vài phút và cái giá không chỉ tính bằng tiền

Phim ngắn được sản xuất bằng các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó có vô số sản phẩm có nội dung gần giống nhau, có nhiều tình tiết vô lý, thậm chí không ít sản phẩm dung tục tràn ngập trên không gian mạng. Đáng lo ngại là những sản phẩm này vẫn thường xuyên len lỏi vào văn phòng làm việc của nhiều cơ quan, đến tận góc bếp của các bà nội trợ và từng căn phòng ngủ của các gia đình...

Điện Kính Thiên được phục dựng sẽ như thế nào?

Điện Kính Thiên được phục dựng sẽ như thế nào?

Ngày 29/9, Dự án đầu tư Bảo quản, tu bổ, phục hồi điện Kính Thiên đã chính thức khởi công. Việc phục dựng công trình mang tính biểu tượng quyền lực quốc gia Đại Việt từ thế kỷ 15 – 18 được khẳng định là tôn trọng tối đa yếu tố gốc, bảo đảm tính xác thực của điện Kính Thiên. Tuy nhiên, vẫn ít người biết, cụ thể công trình này như thế nào.

Lần đầu đến Việt Nam nhưng tôi thấy mình như đã ở đây từ lâu

Lần đầu đến Việt Nam nhưng tôi thấy mình như đã ở đây từ lâu

Sau nhiều lần đến Việt Nam và nhất quyết lên tiếng về chiến tranh tại Việt Nam, nhà văn Sara Lidman từng giúp nhiều người Thuỵ Điển hiểu hơn về những gì diễn ra ở dải đất hình chữ S này. Hơn 60 năm sau, câu chuyện ấy được đạo diễn Gunilla Bresky đưa trở lại Việt Nam trong Liên hoan phim Tài liệu châu Âu – Việt Nam lần thứ 16, với bộ phim “Sara và những kiếp người”, cùng nhiều câu chuyện đặc biệt quanh tác phẩm và nữ nhà văn này.

“Người giữ nhịp bình yên” và những câu chuyện phía sau tiếng còi

“Người giữ nhịp bình yên” và những câu chuyện phía sau tiếng còi

“Người giữ nhịp bình yên” (Trịnh Trung Hiếu, Nhà xuất bản Công an nhân dân) kể những câu chuyện phía sau sắc phục Cảnh sát giao thông - nơi có những ca trực lặng thầm, những tình huống bất ngờ và những con người ngày ngày góp phần giữ bình yên trên mỗi cung đường.

Rà soát các trường hợp phổ biến phim trên mạng có dấu hiệu vi phạm

Rà soát các trường hợp phổ biến phim trên mạng có dấu hiệu vi phạm

Cục Điện ảnh đang phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tiến hành kiểm tra, rà soát, xác minh các trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động phổ biến phim trên các nền tảng, ứng dụng và không gian mạng có dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật về điện ảnh.

Chủ động kỹ năng tuyên truyền Năm APEC Việt Nam 2027

Chủ động kỹ năng tuyên truyền Năm APEC Việt Nam 2027

Ngoài việc tập huấn kỹ năng cho đội ngũ làm công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm về sự kiện đối ngoại quan trọng của đất nước; các cơ quan báo chí còn định vị năng lực công nghệ, bảo đảm an toàn hệ thống thông tin và chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực số trước khi bước vào Năm APEC 2027.

Văn hóa, thể thao Phú Thọ: Sức sống mới từ Đất Tổ

Văn hóa, thể thao Phú Thọ: Sức sống mới từ Đất Tổ

Từ những lễ hội truyền thống, chương trình nghệ thuật phục vụ nhân dân đến các sân chơi thể thao sôi nổi ở cơ sở, năm 2026 đang ghi dấu một bước chuyển mạnh mẽ của đời sống văn hóa, thể thao Phú Thọ. Trong không gian mới sau sắp xếp đơn vị hành chính, các giá trị văn hóa được tiếp tục gìn giữ, lan tỏa, trong khi phong trào thể dục, thể thao ngày càng đi vào chiều sâu, trở thành động lực nâng cao sức khỏe, tinh thần và chất lượng cuộc sống của người dân.

Tự tin phục dựng điện Kính Thiên – biểu tượng quyền lực của triều đình Đại Việt?

Tự tin phục dựng điện Kính Thiên – biểu tượng quyền lực của triều đình Đại Việt?

Sau 15 năm nghiên cứu chuyên sâu, những tư liệu về Điện Kính Thiên ngày càng được làm sáng rõ. Nhiều nhà khoa học nhận định, những tư liệu hiện có đã đủ cơ sở để tự tin phục dựng Điện Kính Thiên – biểu tượng quyền lực, công trình quan trọng bậc nhất của kinh đô Thăng Long xưa. Nếu hoàn thành, đây sẽ kỳ tích.

Loạt phát hiện khảo cổ mới giúp nhận diện đầy đủ điện Kính Thiên

Loạt phát hiện khảo cổ mới giúp nhận diện đầy đủ điện Kính Thiên

Hàng loạt phát hiện mới về điện Kính Thiên từ đợt khai quật khảo cổ lần thứ 4 năm 2026 được công bố ngày 14/9, cung cấp thêm nhiều tư liệu mới, quan trọng về quy mô, kiến trúc móng nền, móng cột, vật liệu xây dựng,... điện Kính Thiên, giúp nhận diện tương đối đầy đủ về Chính điện Kính Thiên và không gian Chính điện Kính Thiên.

Nghị quyết 26 NQ/TW đặt du lịch vào bệ phóng phát triển lên tầm cao mới

Nghị quyết 26-NQ/TW đặt du lịch vào bệ phóng phát triển lên tầm cao mới

Nghị quyết 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới của Bộ Chính trị cùng với những Nghị quyết trụ cột khác đã tạo ra những cơ hội, xung lực mới cho du lịch phát triển… Đây là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu trong cuộc phỏng vấn ngày 7/9 do Báo Công an nhân dân thực hiện.

Masterise Group đồng hành cùng Miss World 2026: Khi những chuẩn mực thế giới hội tụ tại Việt Nam

Masterise Group đồng hành cùng Miss World 2026: Khi những chuẩn mực thế giới hội tụ tại Việt Nam

Ngày 5/9/2026, Masterise Group chính thức đồng hành cùng Miss World 2026 với vai trò Nhà tài trợ Kim cương. Lần đầu tiên trong lịch sử 75 năm, Miss World được tổ chức tại Việt Nam, đánh dấu một điểm gặp gỡ đặc biệt giữa các nền văn hóa, những giá trị và chuẩn mực mang tầm quốc tế.

Nghệ thuật Cải lương khơi dậy lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ

Nghệ thuật Cải lương khơi dậy lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ

Nằm trong chuỗi chương trình Lý luận phê bình văn học nghệ thuật, chiều 4/9, Hội đồng Lý luận Văn học Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh phối hợp cùng Ban Tuyên giáo Thành ủy, Đài Phát thanh - Truyền hình TP Hồ Chí Minh (TFS) tổ chức buổi Tọa đàm chuyên sâu với chủ đề: “Nghệ thuật Cải lương - Ký ức lịch sử và Mã văn hóa dân tộc”.

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Đối với đồng bào Bru-Vân Kiều, văn hóa không chỉ hiện hữu trong những lễ hội được tổ chức theo mùa, những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ hay âm thanh của cồng chiêng giữa đại ngàn. Văn hóa còn nằm trong từng làn điệu dân ca, tiếng sáo, tiếng đàn, trong cách làm một nhạc cụ và những nghi thức được người già truyền lại cho người trẻ. Đó là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng qua bao thế hệ.

Viettel Media và Trung tâm Đo kiểm Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử hợp tác chiến lược

Viettel Media và Trung tâm Đo kiểm Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử hợp tác chiến lược

Sáng 28/8, tại Hà Nội, Trung tâm Đo kiểm phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử thuộc Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và Công ty TNHH MTV Truyền thông Viettel (Viettel Media) tổ chức lễ ký kết hợp tác chiến lược, hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển và khai thác các nền tảng, dịch vụ nội dung số trong môi trường truyền thông hiện đại.