TS Khoa học Toán - Lý Aleksandr Borovoi, Trưởng phòng thí nghiệm các vấn đề Chernobyl và cố vấn của Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu khoa học “Viện Năng lượng Nguyên tử mang tên I.V.. Kurchatov”, đã 20 năm nay làm việc tại khu vực xảy ra thảm họa hạt nhân
Nhất nghệ tinh
TS Aleksandr Borovoi sinh ngày 15/9/1938 ở Moskva. Năm 1961, ông tốt nghiệp kỹ sư vật lý Moskva theo chuyên ngành vật lý hạt nhân thực nghiệm rồi vào làm tại Viện Kurchatov (đây cũng là cơ quan chủ quản đối với ông từ nửa thế kỷ nay). Hiện ông là Trưởng phòng thí nghiệm các vấn đề
Từ tháng 5/1986, TS Borovoi đã làm việc tại nhà máy điện nguyên tử
Sau khi nhà máy điện Chernobyl chuyển sang thuộc quyền quản lý của Viện Hàn lâm Khoa học Ukraina (sau khi Liên Xô tan rã) năm 1992, lãnh đạo Viện Kurchatov đã để nhóm chuyên gia do TS Borovoi đứng đầu ở lại làm việc tại đây trong đội hình của Trung tâm Khoa học Kỹ thuật liên ngành Ukrytie ở Chernobyl.
Từ năm 1992 tới năm 2003, TS Borovoi không chỉ chỉ đạo các công việc mà còn trực tiếp tiến hành các điều tra nghiên cứu trong hàng trăm giờ ở
Thảm họa bất ngờ
Trao đổi với phóng viên tuần san Nga Itogi trong tháng 4 vừa qua, nhân kỷ niệm 25 năm ngày xảy ra thảm họa Chernobyl, TS Borovoi kể:
- Tôi đã lờ mờ đoán rằng ở
Đêm 29/4/1986, sếp trực tiếp của tôi gọi điện thoại bảo tôi tới ngay để bàn “về sự cố ở
Một số ngày trôi qua và đã thấy rõ là, nếu từ Moskva thông qua điện thoại thì chẳng thể nào giải quyết được nhanh chóng những vấn đề nảy sinh. Một thí dụ đơn giản: từ
Càng ngày các câu hỏi càng xuất hiện nhiều và tôi hiểu ra rằng: cần phải tới
Ngay trước hôm tôi đi
Tôi lên xe đi mà không biết rằng rồi tôi sẽ phải hàng trăm lần đi theo hành trình đó và sống theo lịch: 18 ngày ở
Đối diện cùng cái chết
Công việc của những người nhận nhiệm vụ xử lý các hệ lụy của thảm họa
- Tôi vẫn nhớ y nguyên lần đầu tôi đi tàu Raketa ngược dòng Dniepr, những lần mặc vào trang phục làm việc: tất cotton, đồ lót quân nhân, quần áo màu xanh bảo vệ. Tôi nhớ câu “Chào mừng đã tới
Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch ủy ban khi đó là ông Boris Evdokimovich Serbina đã từ những cuộc họp ấy lắm lúc gọi điện thoại trực tiếp lên Thủ tướng Ryzhkov. Đối với tôi thì lọt vào một môi trường như thế là chuyện không thể tưởng tượng được và vì thế, tôi ngại nói một câu gì thừa. Một vài lần tôi đã giơ tay lên vì cho rằng, có thể tìm ra cách giải quyết vừa rẻ hơn vừa tốt hơn. Nhưng họ đã không cho tôi phát biểu ý kiến. Mọi sự chỉ thay đổi sau một sự kiện.
Ngày 21/10/1986, đúng lúc việc xây dựng Ukrytie (công trình che kín nơi xảy ra thảm họa) đang trong giai đoạn cao điểm nhất, tôi được Viện sĩ Valeri Alekseyevich Legasov, Phó giám đốc Viện Kurchatov và là thành viên ủy ban chính phủ, tìm gặp và đưa vào phòng làm việc của ông Serbina. Và ông này đã kinh hãi bởi tin trong lò phản ứng xét theo mọi sự đã bắt đầu một phản ứng dây chuyền. Cùng một lúc đã xảy ra liền ba sự kiện: trong những phần phía dưới của công trình nhiệt độ bắt đầu tăng lên, mức độ hoạt động của khói và sương mù trong không khí ở phía trên cũng gia tăng và các máy bay trực thăng bay hàng ngày trên vùng thảm họa cũng báo cáo rằng, mức độ phóng xạ ở phía trên đó là 35 roentgen một giờ, tức là cao gấp 4 lần so với một ngày trước đó. Cần phải mau lẹ xác định chuyện gì đang diễn ra, bởi lẽ ở khu vực này đang có tới hàng nghìn người làm việc. Tôi hỏi, chúng ta còn bao nhiêu thời gian nữa? “Tôi có thể cho anh một giờ”. Ngay lập tức tôi được đi kèm với một nhân viên KGB đặc biệt, có nhiệm vụ ghi lại từng cử chỉ và hành động của tôi, và bắt tôi phải ký vào từng trang ghi chép như khi bị thẩm vấn.
Tôi đã cùng các nhà vật lý khác làm việc. Và nhận thấy đó không phải là phản ứng dây chuyền, vì chúng tôi không phát hiện ra các radionuclideis tức thời báo hiệu về nó. Vậy thì đó là cái gì? Dễ nhất là lý giải nguyên nhân dẫn tới tăng nhiệt độ ở phần dưới công trình. Ở thời điểm đó đang tiến hành bê tông hóa nền của các cột trụ để đặt các rầm ngang của hệ thống Ukrytie sẽ được xây dựng. Bê tông được thổi vào từ các máy bơm đặc biệt theo đường ống tới các cột trụ. Kiểm tra quá trình nhồi nó rất khó vì các khoảng không phóng xạ rất lớn và vì những đổ vỡ của hệ thống công trình. Rốt cuộc là một phần rất lớn bê tông đã chảy xuống phần dưới của công trình và chặn đường luồng khí mà trước đó vẫn làm mát nhiên liệu. Chúng tôi cũng lý giải khá nhanh hiện tượng sương mù và khói trong không khí phía trên gia tăng. Hóa ra là, có một cán bộ đểnh đoảng nào đó đã lấy các máy đo từ chỗ quy định đặt sang về phía con đường, và các máy trộn bê tông luôn làm cho bụi mù lên. Trong những điều kiện này thì mức độ gia tăng sương mù và khói có thể đo được tăng gấp cả trăm lần so với bình thường chứ không phải chỉ 10 lần!
Thế nhưng, với những số liệu từ các máy bay trực thăng thì không dễ lý giải. Mãi rồi chúng tôi cũng tìm ra nguyên do. Tại nơi mà các máy bay trực thăng quân sự đã làm việc – công cụ của chúng được dành để đo mức độ phóng xạ ở phía trên chỗ thủng mà vụ nổ hạt nhân đã gây nên. Tức là những máy bay này chỉ bay được ở phía trên mặt đất bằng và xác định mức độ phóng xạ ở khoảng cách một mét xa nó. Thế nhưng, độ cao của công trình ở chỗ chúng tôi là 70 mét. Vì thế các phi công đã nhận được chỉ thị chia các chỉ số trên máy đo cho 4.
Tôi thu thập thông tin và biết rằng, nhóm phi công mới vừa được chuyển từ
Ông Serbina sau khi xem ảnh đã đề nghị bay thêm vài ngày và kiểm tra kết quả lại cho chắc chắn. Vài ngày sau chuyện đó, tôi vì không được ngủ mấy ngày liền nên đã ngủ gật trong cuộc họp của ủy ban chính phủ và ngã xuống sàn. Sau đó vài ngày nữa, trong một cuộc họp tiếp theo, ông Serbina đã nhìn về phía tôi: “Có lẽ sẽ thú vị nếu biết được khoa học nghĩ gì về chuyện này... Nếu nó không ngủ gật”. Thế là tôi bắt đầu được người ta lắng nghe.
Của đáng tội, dẫu thế nào thì cũng vẫn xảy ra những đụng độ. Một lần tôi báo cáo tại ủy ban về những nơi mà chúng tôi đã nghiên cứu. Một quan chức cao cấp tới thanh tra từ Moskva nổi cáu: “Tại sao ở cùng một nơi mà các anh đo là 7 nghìn roentgen, còn các chuyên gia quân sự lại đo tới 10 nghìn? Khoa học gì mà lại đo không chuẩn xác thế?”. Tôi trả lời là sẽ không đo lại nữa gì đằng nào ở đó cũng không thể làm việc được. Vị quan chức đó buông lời rằng, những người hèn nhát thì ở
Phải, bạn có thể làm công việc của mình chưa tốt lắm, bạn có thể có sơ suất gì đó. Nhưng làm sao lại có thể gọi là kẻ hèn nhát người mà mỗi ngày phải bò trong lò phản ứng đã bị nổ vài ba giờ… Không thể có cách nào khác để tiến hành đo phóng xạ trong những điều kiện tương tự. Chỉ vài phút là có thể bị nhiễm xạ chết người, nên các chuyên gia chạy ngang qua chỗ nguy hiểm với cái cần mà trên đó có dính một viên thuốc đặc biệt. Ném viên thuốc đó vào chỗ tụ nhiên liệu rồi giấu mình sau cột và sau đó giật viên thuốc lên rồi chạy trở lại – không phải trên đường nhựa mà giữa những đổ vỡ. Nếu chuyên gia ấy vấp chân và ngã thì có thể bị mắc trọng bệnh ngay lập tức…
Ở
Mạnh hơn nguyên tử
Phóng viên tuần san Itogi đặt ra câu hỏi: “Cái gì ở
- Cái nguy hiểm nhất là nỗi sợ hãi bị nhiễm xạ. Tại Chernobyl người ta đã bị chết vì nó ở nơi trống không khi chẳng bị nhiễm xạ nặng. Một trong những đồng nghiệp của tôi, một nhà vật lý trẻ, ứng cử viên kiện tướng thể thao, đã bị chết như thế. Anh ấy ngồi cạnh tôi trên đi văng, ngả lưng ra phía sau và chết: tim ngừng đập. Khi trong cái nhóm nhỏ của chúng tôi diễn ra cái chết thứ hai thì tôi đã phải vội lên
- Thế ông có cảm thấy sợ hãi không?
- Về bản tính thì có lẽ tôi cũng là một người hèn nhát. Đời tôi cũng đã xế chiều rồi, không còn sợ phải thú nhận điều này. Nhưng nếu bạn cho phép thì tôi xin được kể về một người mà tôi cho là một anh hùng đích thực. Đó là một ông già, gày gò một cách khủng khiếp, mà tôi đã gặp tại vùng
Khi tình hình ở
- Nhưng ai đó cũng được hưởng vinh quang chứ?
- Trong những năm đầu tiên sau sự cố đã phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ nguy hiểm. Cần phải tìm ra những nơi tích tụ nhiên liệu và những người tham gia làm việc này đã bị nhiễm xạ nặng nề. Thường là họ giấu chuyện đó đi để tiếp tục làm việc. Tôi nhớ có một lần, tôi đã phải làm ầm ĩ cả lên khi trong lúc hội ý tôi thông báo rằng tôi sẽ tới một địa điểm nào đó trong công trình thì lại nghe thấy một đồng chí của mình nói: “Anh đừng tới đó, tôi đã làm xong mọi việc ở đó, đã đo và chụp ảnh rồi”. Anh ấy làm thế để tôi khỏi phải bị nhiễm xạ. Những người như thế được gọi là các “stalker” (Mạo hiểm viên) và được đồng chí, đồng đội kính trọng một cách đặc biệt. Nhưng rồi dần dà cũng giảm bớt nhu cầu tiến hành những công vụ nguy hiểm. Khi đó chúng tôi đã có đủ các mẫu vật cho các phòng thí nghiệm ở
Tuy nhiên, đáng tiếc là một bộ phận không thể chịu được sự thiếu vắng vinh quang và tiền bạc. Tôi không muốn nêu ra tên họ nhưng đã có những người tìm mọi cách để phục hồi vị thế cũ. Họ triệu tập các phóng viên ngoại quốc, ra những tuyên bố động giời, viết những bài báo “vạch trần”, khoe rằng họ đã bị nhiễm xạ tới hàng nghìn roentgen, mặc dù đã chứng minh được rằng, chỉ cần nhiễm xạ khoảng 500 roentgen là không thể còn cơ hội sống sót nữa. Họ bịa ra rằng trong lúc xảy ra sự cố toàn bộ nhiên liệu đã bị bung ra ngoài không trung, rằng ở Chernobyl đã xảy ra vụ nổ plutoni, rằng KGB đã phá hoại lò phản ứng (!?). Tất cả những việc như thế đã gây nên những thiệt hại có thực, cụ thể là làm tăng thêm cả nỗi sợ hãi bị nhiễm xạ…
- Thế có xảy ra việc nhiên liệu bị bung ra không?
- Giờ thì chúng ta đã biết rõ rằng, bản thân nhiên liệu (uranium dioxide nhiễm xạ) chỉ bị bung ra ngoài dưới 5%. Bị bung vào không trung nhiều là chất phóng xạ caesim nhưng nó rất nhẹ và dễ bay hơi. Còn những radionuclideis không bốc hơi được tạo ra trong lò phản ứng thì bị bung ra trong thành phần các phân tử nhiên liệu tương đối nặng. Chúng không thể phát tán đi xa được mà rơi chủ yếu trong khu vực bán kính 10 km quanh lò phản ứng. Chúng tôi đã xác định lượng phát tán của chúng qua các phân tích hàng nghìn mẫu đất. Và hiểu ra rằng, 95% lượng nhiên liệu, tức là khoảng 180 tấn, đã đọng lại trong vỏ bọc công trình. Cho tới giờ chúng tôi đã tìm ra 150 tấn. Chúng tôi cũng áng chừng được nơi tồn đọng của 30 tấn còn lại nhưng với khả năng kỹ thuật hiện nay thì rất khó tiếp cận chúng. Có quá nhiều nguy cơ liên quan tới việc này, sẽ phải hy sinh quá nhiều người.
- Thế mà lại có những đồn đại rằng lẽ ra chết ít nạn nhân hơn. Thiên hạ cũng đồn rằng Phó giám đốc Viện Kurchatov, Viện sĩ Valeri Legasov, vì cảm thấy có lỗi nên đã tự tử…
- Không, cái chết của Viện sĩ Legasov không liên quan gì tới việc đó cả. Thêm vào đó bây giờ người ta quên rằng chính ông ấy đã là người vào cuộc đầu tiên. Ông ấy không phải kẻ cử những người khác đi vào nơi nguy hiểm, còn mình lại ngồi lì ở chỗ an toàn. Khi ngay trong ngày đầu tiên sau khi xảy ra sự cố phải tiến hành đo dòng neutron ở ngay cửa công trình bị sụp đổ để xác định xem liệu lò phản ứng có tiếp tục hoạt động không, ai kiểm soát được không, thì Legasov đã tới đó ngay. Ông đã ngồi vào lái xe bọc thép và tới sát cửa lò. Và trong chuyến đi đó ông đã bị nhiễm xạ ở mức tất yếu sẽ mắc bệnh.
Cũng phải nói rằng, trước khi tới