Tiết lộ của 1 trong những người xử lý hậu quả của thảm họa nhà máy điện nguyên tử Chernobyl

Nhiều chiều sự thật

Tác hại thực sự của thảm họa xảy ra tháng 4/1986 tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl trên lãnh thổ Ukraina (lúc đó còn là một trong 15 nước cộng hòa của LB Xô viết) chỉ có thể đánh giá được đầy đủ sau rất nhiều năm. Hơn nữa, Chernobyl như một sự kiện quy mô toàn cầu lại rất khác nhau ở những người khác nhau. Đối với một số người, đó có thể là vài ba ngày chớm xuân đã cướp đi tất cả sức khỏe. Đối với một số người khác, đó là những chuyến công tác triền miên đến khu vực thảm họa. Và rất ít ai coi việc thanh toán hệ lụy từ thảm họa Chernobyl như sự nghiệp của đời mình.

TS Khoa học Toán - Lý Aleksandr Borovoi, Trưởng phòng thí nghiệm các vấn đề Chernobyl và cố vấn của Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu khoa học “Viện Năng lượng Nguyên tử mang tên I.V.. Kurchatov”, đã 20 năm nay làm việc tại khu vực xảy ra thảm họa hạt nhân Chernobyl , cho đến nay vẫn nói rằng, ông đã gặp may trong cuộc đời mình.

Nhất nghệ tinh

TS Aleksandr Borovoi sinh ngày 15/9/1938 ở Moskva. Năm 1961, ông tốt nghiệp kỹ sư vật lý Moskva theo chuyên ngành vật lý hạt nhân thực nghiệm rồi vào làm tại Viện Kurchatov (đây cũng là cơ quan chủ quản đối với ông từ nửa thế kỷ nay). Hiện ông là Trưởng phòng thí nghiệm các vấn đề Chernobyl ở Viện Kurchatov. Ông là tác giả và đồng tác giả của 6 công trình và gần 200 bài báo cũng như báo cáo khoa học và được đánh giá là một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực xử lý các hậu quả từ các thảm họa hạt nhân.

Từ tháng 5/1986, TS Borovoi đã làm việc tại nhà máy điện nguyên tử Chernobyl , thoạt tiên trên cương vị tư vấn viên trong ủy ban chính phủ. Năm 1987, ông trở thành lãnh đạo nhóm hành động của Viện Kurchatov rồi từ năm 1988, đứng đầu phòng khoa học của đoàn công tác  tổng hợp.

Sau khi nhà máy điện Chernobyl chuyển sang thuộc quyền quản lý của Viện Hàn lâm Khoa học Ukraina (sau khi Liên Xô tan rã) năm 1992, lãnh đạo Viện Kurchatov đã để nhóm chuyên gia do TS Borovoi đứng đầu ở lại làm việc tại đây trong đội hình của Trung tâm Khoa học Kỹ thuật liên ngành Ukrytie ở Chernobyl.

Từ năm 1992 tới năm 2003, TS Borovoi không chỉ chỉ đạo  các công việc mà còn trực tiếp tiến hành các điều tra nghiên cứu trong hàng trăm giờ ở Chernobyl . Ông đã được tặng danh hiệu Nhà hoạt động khoa học kỹ thuật công huân của nước cộng hòa Ukraina và được nhận giải thưởng Nhà nước ở đây. Nhờ những đóng góp cho Chernobyl , TS Borovoi đã được tặng ba bằng khen của chính phủ và Huân chương Dũng cảm. Ba lần ông được nhận giải thưởng trong các cuộc thi nghiên cứu khoa học mang tên Kurchatov… Vợ và con trai ông cũng từng làm việc ở Chernobyl trong những năm 1989-1990. TS Borovoi năm 2001 đã được các nhà báo Mỹ đưa vào danh sách 20 anh hùng đích thực đang còn sống.

Thảm họa bất ngờ

Trao đổi với phóng viên tuần san Nga Itogi trong tháng 4 vừa qua, nhân kỷ niệm 25 năm ngày xảy ra thảm họa Chernobyl, TS Borovoi kể:

- Tôi đã lờ mờ đoán rằng ở Chernobyl đã xảy ra một chuyện gì đó nghiêm trọng lắm từ sáng ngày 26/4/1986. Khi ấy tôi thấy ở tầng ba tòa nhà của Viện chúng tôi, có khá nhiều người mặt mày đầy lo lắng đi vào phòng làm việc của Viện sĩ Aleksandrov, Giám đốc Viện Kurchatov. Nhiều người trong số đó còn vội vã đứng ngoài hành lang viết gì đó lên trên những trang giấy… Và vang lên cái tên “ Chernobyl ” thường xuyên. Khi ấy tôi đang là người chỉ đạo một nhóm nhỏ các nhà vật lý thực nghiệm; năm 1984 chính chúng tôi đã là những người đầu tiên ở Liên Xô cũng như ở châu  Âu ghi nhận các phản ứng neutrino ở nhà máy điện nguyên tử Rivne (nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Ukraina sử dụng lò phản ứng nước áp lực) và hoàn thành hàng loạt những nghiên cứu thú vị. Để làm việc này, chúng tôi đã phải học cách tính toán chính xác lượng phóng xạ tích tụ lại trong lò phản ứng.

Đêm 29/4/1986, sếp trực tiếp của tôi gọi điện thoại bảo tôi tới ngay để bàn “về sự cố ở Chernobyl ”. Cần phải đánh giá xem lượng và loại phóng xạ đã tích tụ lại trong nhiên liệu của lò thứ tư trong thời gian nó hoạt động. Những tính toán theo lý thuyết đã không đủ chuẩn xác vì nó sai khác hàng chục lần so với những phân tích hóa phóng xạ các mẫu không khí và mẫu đất đầu tiên. Chính vì thế nên nhóm chúng tôi mới phải ngồi vào tiến hành các tính toán mới. Khi ấy, chúng tôi chưa có computer ở cạnh nên từng người trong nhóm đã phải đảm nhiệm những con tính ở từng phần chương trình và chuyền cho nhau các kết quả liên hoàn. Sau một ngày đêm chúng tôi đã có kết quả cuối cùng. Phải rất lâu sau đó hàng chục phòng thí nghiệm khác mới tiến hành các tính toán tương tự và hóa ra là, chúng tôi chỉ sai lạc khoảng hơn 20%, một kết quả hoàn toàn chấp nhận được.

Một số ngày trôi qua và đã thấy rõ là, nếu từ Moskva thông qua điện thoại thì chẳng thể nào giải quyết được nhanh chóng những vấn đề nảy sinh. Một thí dụ đơn giản: từ Chernobyl gọi điện về báo rằng có lẽ toàn bộ lượng nhiên liệu từ lò phản ứng đã được đẩy vào phòng máy. Vì sao lại xuất hiện những phỏng đoán như thế? Các chuyên gia đã đi trên xe bọc thép quanh phòng máy và đo lượng phóng xạ: ở một điểm nhất định nó bỗng tăng lên gấp nhiều lần. Thường thì chỉ 15, 18, 20 roentgen một giờ và bỗng nhiên lại là 2.000.  Rồi sau đó lượng phóng xạ lại giảm đột ngột. Đối diện với điểm đó trên tường có một vết nứt mà qua đó, như người ta phỏng đoán, nhiên liệu mới trào qua. Tôi suy nghĩ nhanh: để hiện tượng này có thể xảy ra thì ở trong phòng máy đã tràn vào vết nứt đó rất nhiều tấn nhiên liệu, nhưng nếu như vậy thì chỉ số của máy đo sẽ tăng lên một cách dần dần hơn. Hóa ra là khi đo máy đo ở chỗ này đã được thả xuống đúng miếng nhiên liệu gá lắp đã bị vứt đi.

Càng ngày các câu hỏi càng xuất hiện nhiều và tôi hiểu ra rằng: cần phải tới Chernobyl . Thảm họa hạt nhân đó lại xảy ra trùng với một tai họa khác:  lúc đó mẹ tôi đang hấp hối vì căn bệnh ung thư. Tôi nhớ là tôi đã nói với mẹ tôi, đã gần như bất động và khó khăn lắm mới thốt được lên một hai từ, rằng tôi đang làm việc trong nhóm hành động tính toán và thử nghiệm giúp Chernobyl . Mẹ tôi mới nhớ ra, Chernobyl , đó là tên của một loại ngải cứu, thứ cây cỏ rất đắng ở thảo nguyên. Và mẹ tôi đã bất ngờ bảo tôi giở cuốn Kinh Thánh mà bà luôn mang theo mình. Tôi đã đọc những câu từ sách Khải Thị mà về sau người ta đã hàng trăm lần dẫn ra khi nói tới thảm họa Chernobyl : “Thiên sứ thứ ba thổi lên, bèn có một ngôi sao lớn, cháy như đuốc, từ trời sa xuống, rơi nhằm một phần ba các sông và các suối nước. Tên ngôi sao đó là Ngải cứu!”. Mẹ tôi nhìn sâu vào mắt tôi: “Con trai yêu của mẹ, đi tới đó đi. Mẹ sẽ khỏe hơn đấy. Cần phải đi, mẹ biết điều đó, mẹ cảm thấy điều đó. Chernobyl – đó là ngôi sao của con, không thể nào thoát khỏi được số phận đâu, chỗ của con là ở đó”.

Ngay trước hôm tôi đi Chernobyl một ngày là đám tang mẹ tôi. Còn trước đó nữa Giám đốc Aleksandrov đã gọi tôi vào gặp. Ông ngồi đầy mệt mỏi trong phòng làm việc của mình mà ở đó có lẽ ông đã ngồi như thế bao nhiêu ngày đêm rồi, mà ông thì khi đó đã hơn 80 tuổi. Và ông nói: “Tôi cử anh đi không chỉ tới làm việc trong nhóm hành động mà còn phải có mặt trong các cuộc họp của ủy ban chính phủ. Ở đó cần có người hiểu về vật lý hạt nhân. Đừng buồn nếu các đề nghị của anh sẽ không được ai nghe theo. Nhưng nếu họ định làm cái việc mà không được làm trong bất cứ trường hợp nào, nếu những việc ấy dẫn tới chuyện làm tăng nhiễm xạ cho người, thì  anh hãy báo cáo với lãnh đạo nhóm hành động, hãy gọi điện thoại về cho tôi và phải ngăn chặn bằng mọi cách”.

Tôi lên xe đi mà không biết rằng rồi tôi sẽ phải hàng trăm lần đi theo hành trình đó và sống theo lịch: 18 ngày ở Chernobyl (khoảng thời gian được phép ở đó) và 12 ngày ở Moskva. Chuyến công tác đã kéo dài tới 20 năm.

Kiểm tra phóng xạ.
Kiểm tra phóng xạ.

Đối diện cùng cái chết

Công việc của những người nhận nhiệm vụ xử lý các hệ lụy của thảm họa Chernobyl đầy rẫy những nguy cơ chết chóc vì nhiễm xạ. Không những thế, ngay cả bầu không khí làm việc không phải lúc nào cũng thuận lợi. TS Borovoi nhớ lại:

- Tôi vẫn nhớ y nguyên lần đầu tôi đi tàu Raketa ngược dòng Dniepr, những lần mặc vào trang phục làm việc: tất cotton, đồ lót quân nhân, quần áo màu xanh bảo vệ. Tôi nhớ câu “Chào mừng đã tới Chernobyl !” vang lên từ bục thuyền trưởng.  Trong ủy ban chính phủ mà tôi phải là tư vấn viên, người ta đón tôi bằng một cách rất bất ngờ: “Anh có thể nói bằng tiếng Nga xem anh là ai không? Anh có thể nói ra nghề của anh không?”. Tôi trả lời rằng tôi là nhà vật lý. “Chúng tôi không cần các nhà vật lý, chúng tôi cóc cần các nhà vật lý. Chúng tôi cần chuyên gia về lò phản ứng!”. Rất nhiều lần sau đó tôi ngồi vào tít một góc trong các cuộc họp của ủy ban chính phủ, xung quanh tôi là những người mang áo bảo vệ to xù với những ngôi sao tướng sáng chói trên cầu vai, các giám đốc các viện và các bộ trưởng.

Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch ủy ban khi đó là ông Boris Evdokimovich Serbina đã từ những cuộc họp ấy lắm lúc gọi điện thoại trực tiếp lên Thủ tướng Ryzhkov. Đối với tôi thì lọt vào một môi trường như thế là chuyện không thể tưởng tượng được và vì thế, tôi ngại nói một câu gì thừa. Một vài lần tôi đã giơ tay lên vì cho rằng, có thể tìm ra cách giải quyết vừa rẻ hơn vừa tốt hơn. Nhưng họ đã không cho tôi phát biểu ý kiến. Mọi sự chỉ thay đổi sau một sự kiện.

Ngày 21/10/1986, đúng lúc việc xây dựng Ukrytie (công trình che kín nơi xảy ra thảm họa) đang trong giai đoạn cao điểm nhất, tôi được Viện sĩ Valeri Alekseyevich Legasov, Phó giám đốc Viện Kurchatov và là thành viên ủy ban chính phủ, tìm gặp và đưa vào phòng làm việc của ông Serbina. Và ông này đã kinh hãi bởi tin trong lò phản ứng xét theo mọi sự đã bắt đầu một phản ứng dây chuyền. Cùng một lúc đã xảy ra liền  ba sự kiện: trong những phần phía dưới của công trình nhiệt độ bắt đầu tăng lên, mức độ hoạt động của khói và sương mù trong không khí ở phía trên cũng gia tăng và các máy bay trực thăng bay hàng ngày trên vùng thảm họa cũng báo cáo rằng, mức độ phóng xạ ở phía trên đó là 35 roentgen một giờ, tức là cao gấp 4 lần so với một ngày trước đó. Cần phải mau lẹ xác định chuyện gì đang diễn ra, bởi lẽ ở khu vực này đang có tới hàng nghìn người làm việc. Tôi hỏi, chúng ta còn bao nhiêu thời gian nữa? “Tôi có thể  cho anh một giờ”. Ngay lập tức tôi được đi kèm với một nhân viên KGB đặc biệt, có nhiệm vụ ghi lại từng cử chỉ và hành động của tôi, và bắt tôi phải ký vào từng trang ghi chép như khi bị thẩm vấn.

Tôi đã cùng các nhà vật lý khác làm việc. Và nhận thấy đó không phải là phản ứng dây chuyền, vì chúng tôi không phát hiện ra các radionuclideis  tức thời báo hiệu về nó. Vậy thì đó là cái gì? Dễ nhất là lý giải nguyên nhân dẫn tới tăng nhiệt độ ở phần dưới công trình. Ở thời điểm đó đang tiến hành bê tông hóa nền của các cột trụ để đặt các rầm ngang của hệ thống Ukrytie sẽ được xây dựng. Bê tông được thổi vào từ các máy bơm đặc biệt theo đường ống tới các cột trụ. Kiểm tra quá trình nhồi nó rất khó vì các khoảng không phóng xạ rất lớn và vì những đổ vỡ của hệ thống công trình. Rốt cuộc là một phần rất lớn bê tông đã chảy xuống phần dưới của công trình và chặn đường luồng khí mà trước đó vẫn làm mát nhiên liệu. Chúng tôi cũng lý giải khá nhanh hiện tượng sương mù và khói trong không khí phía trên gia tăng. Hóa ra là, có một cán bộ đểnh đoảng nào đó đã lấy các máy đo từ chỗ quy định đặt sang về phía con đường, và các máy trộn bê tông luôn làm cho bụi mù lên. Trong những điều kiện này thì mức độ gia tăng sương mù và khói có thể đo được tăng gấp cả trăm lần so với bình thường chứ không phải chỉ 10 lần!

Thế nhưng, với những số liệu từ các máy bay trực thăng thì không dễ lý giải. Mãi rồi chúng tôi cũng tìm ra nguyên do. Tại nơi mà các máy bay trực thăng quân sự đã làm việc – công cụ của chúng được dành để đo mức độ phóng xạ ở phía trên chỗ thủng mà vụ nổ hạt nhân đã gây nên. Tức là những máy bay này chỉ bay được ở phía trên mặt đất bằng và xác định mức độ phóng xạ ở khoảng cách một mét xa nó. Thế nhưng, độ cao của công trình ở chỗ chúng tôi là 70 mét. Vì thế các phi công đã nhận được chỉ thị chia các chỉ số trên máy đo cho 4.

Tôi thu thập thông tin và biết rằng, nhóm phi công mới vừa được chuyển từ Afghanistan tới Chernobyl nên không kịp biết chỉ thị trên. Thế là tôi đi báo cáo với ông Serbina về các kết quả. Ông ấy cho  tôi thêm một giờ nữa và yêu cầu tìm ra những bằng cớ xác thực hơn. Tôi cùng các đồng nghiệp lên máy bay trực thăng và dừng ở trên không phía trên miệng lò phản ứng. Chúng tôi mang theo một số máy đo, trong đó có cả máy đo do Nhật Bản sản xuất mà chúng tôi lấy từ chỗ Viện sĩ Legasov và đồng thời chụp chúng cùng với bản đo của máy bay trực thăng từ độ cao và tọa độ có thể thấy rõ là chúng tôi làm thực chứ không phải bày trò.

Ông Serbina sau khi xem ảnh đã đề nghị bay thêm vài ngày và kiểm tra kết quả lại cho chắc chắn. Vài ngày sau chuyện đó, tôi vì không được ngủ mấy ngày liền nên đã ngủ gật trong cuộc họp của ủy ban chính phủ và ngã xuống sàn. Sau đó vài ngày nữa, trong một cuộc họp tiếp theo, ông Serbina đã nhìn về phía tôi: “Có lẽ sẽ thú vị nếu biết được khoa học nghĩ gì về chuyện này... Nếu nó không ngủ gật”. Thế là tôi bắt đầu được người ta lắng nghe.

Của đáng tội, dẫu thế nào thì cũng vẫn xảy ra những đụng độ. Một lần tôi báo cáo tại ủy ban về những nơi mà chúng tôi đã nghiên cứu. Một quan chức cao cấp tới thanh tra từ Moskva nổi cáu: “Tại sao ở cùng một nơi mà các anh đo là 7 nghìn roentgen, còn các chuyên gia quân sự lại đo tới 10 nghìn? Khoa học gì mà lại đo không chuẩn xác thế?”. Tôi trả lời là sẽ không đo lại nữa gì đằng nào ở đó cũng không thể làm việc được. Vị quan chức đó buông lời rằng, những người hèn nhát thì ở Chernobyl không cần tới. Trước khi câu này vang lên trong phòng họp mọi người vẫn trò chuyện riêng vì ít ai chăm chú nghe vị quan chức đó nói. Nhưng sau câu vừa rồi thì cả phòng im bặt đi. Không có ai ở Chernobyl lại nỡ nói như thế cả.

Phải, bạn có thể làm công việc của mình chưa tốt lắm, bạn có thể có sơ suất gì đó. Nhưng làm sao lại có thể gọi là kẻ hèn nhát người mà mỗi ngày phải bò trong lò phản ứng đã bị nổ vài ba giờ… Không thể có cách nào khác để tiến hành đo phóng xạ trong những điều kiện tương tự. Chỉ vài phút là có thể bị nhiễm xạ chết người, nên các chuyên gia chạy ngang qua chỗ nguy hiểm với cái cần mà trên đó có dính một viên thuốc đặc biệt. Ném viên thuốc đó vào chỗ tụ nhiên liệu rồi giấu mình sau cột và sau đó giật viên thuốc lên rồi chạy trở lại – không phải trên đường nhựa mà giữa những đổ vỡ. Nếu chuyên gia ấy vấp chân và ngã thì có thể bị mắc trọng bệnh ngay lập tức…

Chernobyl cần tới kinh nghiệm đã được biến thành bản năng. Trong đầu vang lên tín hiệu nào đó là ta phải giấu mình vào sau cột ngay,  ở đó phải cúi mình xuống để ít bị nhiễm xạ nhất mà ta vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ. Một lần những người lính trẻ mà tôi vẫn thường xuyên phải mắng mỏ vì cách làm không thận trọng, đã cãi lại tôi rằng, ông cứ thử tự đi và làm sao để ít bị nhiễm xạ xem sao. Và tôi đã đích thân đi làm và đã bị nhiễm xạ ít hơn, dù khi ấy tôi đã gần 50 tuổi và chuyển động không thể nhanh bằng họ.

Mạnh hơn nguyên tử

Phóng viên tuần san Itogi đặt ra câu hỏi: “Cái gì ở Chernobyl nguy hiểm hơn, phóng xạ hay stress?”. Và TS Borovoi đã trả lời:

- Cái nguy hiểm nhất là nỗi sợ hãi bị nhiễm xạ. Tại Chernobyl người ta đã bị chết vì nó ở nơi trống không khi chẳng bị nhiễm xạ nặng. Một trong những đồng nghiệp của tôi, một nhà vật lý trẻ, ứng cử viên kiện tướng thể thao, đã bị chết như thế. Anh ấy ngồi cạnh tôi trên đi văng, ngả lưng ra phía sau và chết: tim ngừng đập. Khi trong cái nhóm nhỏ của chúng tôi diễn ra cái chết thứ hai thì tôi đã phải vội lên Kiev tìm gặp các bác sĩ. Một nhóm các nhà tâm lý đã được cử xuống cùng chúng tôi và đã xác định được rằng, người ta có thể cảm thấy nỗi sợ rất lớn trước phóng xạ. Mỗi ngày ta đi vào lò phản ứng như đi gặp cái chết. Ta phải giấu giếm nỗi sợ hãi đó, ta muốn khắc phục nó vì ở bên ta những người đàn ông khác cũng đi vào lò phản ứng như thế, đó như là một cuộc tấn công, không ai không thể ở lại. Và rốt cuộc là nỗi sợ hãi đó sẽ giết chết ta.

- Thế ông có cảm thấy sợ hãi không?

- Về bản tính thì có lẽ tôi cũng là một người hèn nhát. Đời tôi cũng đã xế chiều rồi, không còn sợ phải thú nhận điều này. Nhưng nếu bạn cho phép thì tôi xin được kể về một người mà tôi cho là một anh hùng đích thực. Đó là một ông già, gày gò một cách khủng khiếp, mà tôi đã gặp tại vùng Chernobyl đã trở nên hoang vắng vào đầu năm 1987. Tôi đã không tin vào mắt mình khi nhìn thấy cánh cửa ra vào của nhà thờ đã bị đóng sau thảm họa còn hé mở và trong ô cửa sổ thấp thoáng có ánh đèn. Tôi lại gần hơn và nghe thấy ông già đó một mình đang làm lễ và hát lời cầu nguyện bằng cái giọng yếu ớt run rẩy. Tôi đã không làm phiền ông ấy và rồi sau đó tìm hiểu thông tin về ông ấy khi tới ăn trong nhà ăn. Hóa ra là cánh phụ nữ có biết vị cha này nhưng không ai rõ ông ấy tới từ đâu. Cũng không rõ ai đã mở cửa nhà thờ cho ông ấy. Tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu ông ấy sống ở chỗ nào và ăn uống ra sao? Không ai cho ông ấy phiếu ăn ở nhà ăn mà tại khu vực này thì không nơi nào khác có thể ăn được cả. Hóa ra là, ở nhà ăn người ta cũng cho ông ấy ăn nhưng đó cũng là một việc khó cho ông ấy vì chúng tôi được nuôi bằng thịt mà ông ấy lại ăn chay. Hai tháng sau, vào mùa xuân, tôi lại ghé qua nhà thờ và lại thấy vị cha cố đó vẫn hành lễ, trong cảnh cô đơn tuyệt đối. Hè tới, tôi thấy có vài người phụ nữ không biết từ đâu tới đã phụ họa hát theo cha cố trong nhà thờ. Sau đấy tôi không còn gặp ông già đó nữa. Có lẽ ông ấy đã chết. Cho tới bây giờ tôi vẫn cảm thấy tiếc vì mình không tìm gặp và trò chuyện với con người này, không biết tên họ của ông ấy.

Khi tình hình ở Chernobyl đã trở nên ít nhiều bình ổn thì trong nhà thờ ở đó vào những ngày lễ vẫn có một vị cha cố béo tốt và vui tính tới hành lễ. Nhưng tôi vẫn coi ông cụ mà tôi chưa biết tên họ ấy là một người anh hùng chân chính. Chúng tôi, những người chuyên nghiệp, được nhận mức lương không nhỏ ở Chernobyl, thí dụ như tôi chẳng hạn, trong những ngày làm việc ở công trình, được nhận mức lương cao hơn 7 lần so với ở Moskva. Chúng tôi đã được đảm bảo mọi điều kiện. Còn ông cụ ấy đã phải sống nhờ nhà người khác, ăn xin của người khác để cầu nguyện cho những người không tin vào chúa trời!

- Nhưng ai đó cũng được hưởng vinh quang chứ?

- Trong những năm đầu tiên sau sự cố đã phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ nguy hiểm. Cần phải tìm ra những nơi tích tụ nhiên liệu và những người tham gia làm việc này đã bị nhiễm xạ nặng nề. Thường là họ giấu chuyện đó đi để tiếp tục làm việc. Tôi nhớ có một lần, tôi đã phải làm ầm ĩ cả lên khi trong lúc hội ý tôi thông báo rằng tôi sẽ tới một địa điểm nào đó trong công trình thì lại nghe thấy một đồng chí của mình nói: “Anh đừng tới đó, tôi đã làm xong mọi việc ở đó, đã đo và chụp ảnh rồi”. Anh ấy làm thế để tôi khỏi phải bị nhiễm xạ. Những người như thế được gọi là các “stalker” (Mạo hiểm viên) và được đồng chí, đồng đội kính trọng một cách đặc biệt. Nhưng rồi dần dà cũng giảm bớt nhu cầu tiến hành những công vụ nguy hiểm. Khi đó chúng tôi đã có đủ các mẫu vật cho các phòng thí nghiệm ở Chernobyl, Kiev , Moskva phân tích. Bắt đầu giai đoạn công chuyện ngày thường, vầng hào quang nguyệt quế mờ dần đi. Và mức lương ở Chernobyl cũng dần giảm về tối thiểu. Đại bộ phận các “stalker” chấp nhận điều này như vốn dĩ phải thế và tiếp tục làm việc như tất cả mọi người.

Tuy nhiên, đáng tiếc là một bộ phận không thể chịu được sự thiếu vắng vinh quang và tiền bạc. Tôi không muốn nêu ra tên họ nhưng đã có những người tìm mọi cách để phục hồi vị thế cũ. Họ triệu tập các phóng viên ngoại quốc, ra những tuyên bố động giời, viết những bài báo “vạch trần”, khoe rằng họ đã bị nhiễm xạ tới hàng nghìn roentgen, mặc dù đã chứng minh được rằng, chỉ cần nhiễm xạ khoảng 500 roentgen là không thể  còn cơ hội sống sót nữa. Họ bịa ra rằng trong lúc xảy ra sự cố toàn bộ nhiên liệu đã bị bung ra ngoài không trung, rằng ở Chernobyl đã xảy ra vụ nổ plutoni, rằng KGB đã phá hoại lò phản ứng (!?). Tất cả những việc như thế đã gây nên những thiệt hại có thực, cụ thể là làm tăng thêm cả nỗi sợ hãi bị nhiễm xạ…

- Thế có xảy ra việc nhiên liệu bị bung ra không?

- Giờ thì chúng ta đã biết rõ rằng, bản thân nhiên liệu (uranium dioxide nhiễm xạ) chỉ bị bung ra ngoài dưới 5%. Bị bung vào không trung nhiều là chất phóng xạ  caesim nhưng nó rất nhẹ và dễ bay hơi. Còn những radionuclideis không bốc hơi được tạo ra trong lò phản ứng thì bị bung ra trong thành phần các phân tử nhiên liệu tương đối nặng. Chúng không thể phát tán đi xa được mà rơi chủ yếu trong khu vực bán kính 10 km quanh lò phản ứng. Chúng tôi đã xác định lượng phát tán của chúng qua các phân tích hàng nghìn mẫu đất. Và hiểu ra rằng, 95% lượng nhiên liệu, tức là khoảng 180 tấn, đã đọng lại trong vỏ bọc công trình. Cho tới giờ chúng tôi đã tìm ra 150 tấn. Chúng tôi cũng áng chừng được nơi tồn đọng của 30 tấn còn lại nhưng với khả năng kỹ thuật hiện nay thì rất khó tiếp cận chúng. Có quá nhiều nguy cơ liên quan tới việc này, sẽ phải hy sinh quá nhiều người.

- Thế mà lại có những đồn đại rằng lẽ ra chết ít nạn nhân hơn. Thiên hạ cũng đồn rằng Phó giám đốc Viện Kurchatov, Viện sĩ Valeri Legasov, vì cảm thấy có lỗi nên đã tự tử…

- Không, cái chết của Viện sĩ Legasov không liên quan gì tới việc đó cả. Thêm vào đó bây giờ người ta quên rằng chính ông ấy đã là người vào cuộc đầu tiên. Ông ấy không phải kẻ cử những người khác đi vào nơi nguy hiểm, còn mình lại ngồi lì ở chỗ an toàn. Khi ngay trong ngày đầu tiên sau khi xảy ra sự cố phải tiến hành đo dòng neutron ở ngay cửa công trình bị sụp đổ để xác định xem liệu lò phản ứng có tiếp tục hoạt động không, ai kiểm soát được không, thì Legasov đã tới đó ngay. Ông đã ngồi vào lái xe bọc thép và tới  sát cửa lò. Và trong chuyến đi đó ông đã bị nhiễm xạ ở mức tất yếu sẽ mắc bệnh.

Cũng phải nói rằng, trước khi tới Chernobyl , tôi đã không thích ông vì ông đối xử với cấp dưới rất rắn và nghi thức. Có lần ông đã mắng tôi rất ghê chỉ vì tôi đặt thừa dấu phảy trong một công văn nào đó. Ông muốn cho biết rằng ông, Phó giám đốc thứ nhất trong một viện nghiên cứu có tới hơn 10 nghìn người làm việc, là một đại lượng lớn. Mà tôi ở thời  điểm đó đã từng được làm việc với nhiều nhà khoa học lớn và quen với chuyện, họ coi trọng trước hết là các ý tưởng của ta… Tuy nhiên, ở Chernobyl tôi đã thấy rằng, Viện sĩ Legasov, đó trước hết là một con người làm việc quên mình. Thứ hai, đó là một chuyên gia trình độ cao và một nhân cách rất trung thực. Thứ ba, ông luôn luôn tư duy ở tầm chiến lược…

Phạm Lành – Như Tiến

Các tin khác

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

“Việc nhẹ, lương cao”, “thế giới tự do”, “không cần lao động vẫn có cuộc sống sung túc, được bảo lãnh đi định cư tại các nước thứ ba như Mỹ, Canada, Australia”... Đó là những lời dụ dỗ khiến một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tin theo và di cư bất hợp pháp sang Thái Lan mong được “đổi đời”.

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Trong đời sống âm nhạc, nhiều tác phẩm ra đời theo “đơn đặt hàng” hay yêu cầu, mong muốn nào đó không phải là điều xa lạ. Nhưng vượt ra khỏi mục tiêu ban đầu, nhiều tác phẩm đã ghi dấu ấn bền vững trong lòng công chúng. Đơn đặt hàng - tưởng chừng là khuôn khổ - lại giống như chiếc khung để nhạc sĩ vẽ lên những bức tranh âm nhạc sống động và nhiều điều thú vị.

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Trần Đại Thắng chưa bao giờ thực sự rời sông Đà. Dòng sông ấy vẫn lững lờ trong từng trang sách anh làm, trong mùi giấy in thoang thoảng, trong cả những đêm khuya anh ngồi viết lại chính đời mình. Từ cậu bé 6 tuổi mê mẩn ngắm những cuốn sách Nga trong một hiệu sách bên kia dòng sông Đà đến người dựng nên Đông A Books, Thắng chỉ làm một việc, giữ cho sách không trở thành một thứ thoáng qua. Cuốn "Tôi kể" dày 500 trang không phải lời kết. Chỉ là một lần nữa, anh lật giở ký ức, để xem tất cả những chi tiết nhỏ bé anh đã dành cả đời chăm chút, liệu có đủ nặng để níu lại một chút gì đó giữa dòng đời đang trôi quá vội.

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Sau gần một thập kỷ hoạt động trên không gian mạng, hệ thống phát sóng bóng đá lậu Xôi Lạc TV vừa bị Cơ quan công an triệt phá, khởi tố hàng chục đối tượng liên quan. Đằng sau những đường link xem bóng đá miễn phí tưởng chừng vô hại là cả một "hệ sinh thái" web lậu vận hành theo kiểu "đầu rắn nhiều thân", gắn chặt với quảng cáo cá cược và dòng tiền ngầm có quy mô lớn.

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Tôi quyết định làm chuyến “du lịch bụi” đến Hà Lan vào những ngày cuối năm 2025. Với tôi, đây thật sự là chuyến đi đáng nhớ, bởi Hà Lan không chỉ có kênh đào thơ mộng, cối xay gió, cánh đồng hoa Tulip rực rỡ, văn hóa xe đạp độc đáo mà còn là mảnh đất có nhiều điều để khám phá.

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Năm 2025, lịch sử và âm nhạc cùng lúc tìm được đường trở lại đời sống đương đại. Những bộ phim chiến tranh như "Mưa đỏ" đã lập kỷ lục doanh thu phòng vé với doanh thu trên 700 tỷ đồng; các chương trình Đại nhạc hội quy mô lớn thắp sáng không gian công cộng bằng cảm xúc tập thể, concert "Tổ quốc trong tim" thu hút 50.000 khán giả, Concert "Rạng rỡ Việt Nam" sau vài giờ mở bán đã cháy vé, cho thấy dư địa để phát triển công nghiệp văn hóa rất lớn. Vấn đề là làm thế nào để biến những khoảnh khắc bùng nổ ấy thành một chiến lược phát triển bền vững cho ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam.

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị không ngừng leo thang, một mô hình hợp tác độc đáo đang hình thành ngay tại trung tâm châu Âu. Thủ đô London của nước Anh sắp trở thành thành phố đầu tiên trên thế giới chứng kiến xe tự lái của hai gã khổng lồ công nghệ đến từ Mỹ và Trung Quốc cùng vận hành. Sự hiện diện song hành này không đơn thuần là một cuộc đua công nghệ, mà còn mở ra một lối đi mới, nơi những đối thủ toàn cầu cùng phát triển dưới một khung pháp lý chung, mang đến hy vọng về khả năng phối hợp trong một lĩnh vực then chốt của tương lai.

Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm

Khi “an toàn” chỉ là một khái niệm

Năm 2001, khán giả đã hồi hộp dõi theo những pha hành động và đấu trí trong bộ phim Oceans Eleven (11 tên cướp thế kỷ) về một vụ cướp casino được dàn dựng tinh vi đến mức hoàn hảo ở Los Angeles. Và cuối năm 2025, khi nước Đức đang yên bình tận hưởng kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, một vụ cướp ngân hàng táo bạo, với những tình tiết ly kỳ như phim điện ảnh, đã khiến người ta không khỏi bàng hoàng.

Khi chim bỏ đường bay

Khi chim bỏ đường bay

Có thể gọi vụ hủy chương trình “Về đây bốn cánh chim trời” hôm 28/12 vừa qua là “vụ bể show thế kỷ” bởi nó chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam. Hệ lụy của nó là tranh cãi kéo dài, gay gắt giữa bên bênh vực và bên công kích các nghệ sĩ đã tham gia “đình công”.

Tăng trưởng nghịch chiều và cơ hội cho nền công nghiệp văn hóa

Tăng trưởng nghịch chiều và cơ hội cho nền công nghiệp văn hóa

Năm 2025 của điện ảnh thế giới mở ra với tâm thế bất an. Hollywood, biểu tượng của nền công nghiệp điện ảnh toàn cầu tiếp tục đối mặt chu kỳ suy giảm doanh thu, sự bế tắc của dòng phim trung cấp, chi phí sản xuất leo thang và tình trạng phụ thuộc quá mức vào các thương hiệu cũ. Thị phần phòng vé phim Hollywood đang giảm dần so với 2 thập kỷ trước, nhất là ở các thị trường châu Á, nơi khán giả trẻ chuyển sang nội dung bản địa và dịch vụ trực tuyến.

Ăn chặn tiền sinh viên: Những kẻ đánh cắp niềm tin

Ăn chặn tiền sinh viên: Những kẻ đánh cắp niềm tin

Bắt nguồn từ một câu hỏi thắc mắc trên diễn đàn mạng xã hội của một vài sinh viên, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Phạm Văn Long cùng 2 cấp dưới bị khởi tố hành vi "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ", với cáo buộc đã "ăn chặn" tiền hỗ trợ tham gia phục vụ sự kiện A80 của sinh viên. Số tiền được cho là bị xà xẻo ấy không lớn (chỉ hơn 200 triệu) nhưng thứ mất đi lại lớn hơn nhiều lần.

Khi các “triệu phú crypto” vào tầm ngắm của những kẻ bắt cóc

Khi các “triệu phú crypto” vào tầm ngắm của những kẻ bắt cóc

Trong bối cảnh Bitcoin và các tài sản kỹ thuật số khác liên tục tăng giá, những ví tiền số trở thành “kho vàng di động”, đây không đơn thuần là dạng tống tiền truyền thống nữa. Tội phạm kết hợp giữa công nghệ và thủ đoạn tàn ác truyền thống để chiếm đoạt những khối tài sản ảo. Chúng sử dụng kỹ thuật doxxing (thu thập và tiết lộ thông tin cá nhân trên mạng), khai thác mạng xã hội, truy vết on-chain, rồi chuyển sang hành vi bạo lực ngoài đời thực để bắt cóc, khống chế và ép nạn nhân mở ví, tiết lộ mật khẩu crypto hoặc buộc gia đình nạn nhân chuyển tiền.

Khi thị trường đen buôn bán cổ vật tiếp tay cho tội phạm toàn cầu

Khi thị trường đen buôn bán cổ vật tiếp tay cho tội phạm toàn cầu

Sáng sớm 19/10, bốn tên cướp cải trang thành công nhân xây dựng đã thực hiện một vụ cướp được lên kế hoạch tỉ mỉ tại Bảo tàng Louvre ở thủ đô Paris (Pháp). Chỉ trong vòng chưa đầy 10 phút, chúng đã cuỗm đi 8 món đồ từ bộ sưu tập Trang sức Hoàng gia Pháp - những món đồ nổi tiếng với ý nghĩa lịch sử và tổng giá trị ước tính lên tới 88 triệu euro. Mặc dù một vài nghi phạm đã bị bắt giữ, công tố viên Paris Laure Beccuau vẫn mô tả hoạt động này "rất có thể là hành động của tội phạm có tổ chức".

Người giữ vai trò quan trọng trong hệ thống Hoàng Hường

Người giữ vai trò quan trọng trong hệ thống Hoàng Hường

Sau khi Hoàng Hường - người được mệnh danh là "nữ hoàng" thực phẩm chức năng bị bắt, cơ quan điều tra tiếp tục bắt một mắt xích quan trọng trong "đế chế" Hoàng Hường, đó là Nguyễn Thị Tường An, người không livestream, không xuất hiện trên truyền thông nhưng được dư luận cho rằng, vai trò của Tường An cực kì quan trọng trong hệ thống của Hoàng Hường.

Từ Jack97 không biết sợ tới một câu hỏi lớn hơn

Từ Jack97 không biết sợ tới một câu hỏi lớn hơn

Trên sân khấu lớn, Jack97 bước ra hào hoa như một “công tử” miền Tây, để rồi cậu ca sĩ ấy “tông cửa mồm” ném một câu “dồn cửa tai” của khán giả: “Lào gì cũng tôn”. Lập tức, video ấy tràn lan trên mạng, kéo theo phản ứng giận dữ của rất nhiều người…

Thằng mõ mới ngụ cư cam quýt

Thằng mõ mới ngụ cư cam quýt

Đò dọc phải tránh đò ngang

Ngụ cư phải tránh dân làng cho xa

"Đò" là từ "độ" tiếng Hán - Việt chuyển qua tiếng Việt, theo nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ. Khi ai đó bảo: "Thành công rồi, việc này có trời độ", ta hiểu là do trời ủng hộ giúp đỡ, chứ không hẳn hiểu theo nghĩa độ/ đò là chở qua sông.

Lật tẩy mạng lưới rửa tiền toàn cầu của Prince Holding Group

Lật tẩy mạng lưới rửa tiền toàn cầu của Prince Holding Group

Trong báo cáo dài hơn 200 trang mới được công bố, Bộ Tư pháp Mỹ (DOJ) và Văn phòng Kiểm soát Tài sản Nước ngoài (OFAC) thuộc Bộ Tài chính Mỹ xác định Prince Holding Group (Prince Group) - đế chế kinh doanh trải khắp thế giới của ông trùm lừa đảo Chen Zhi, là một tổ chức tội phạm xuyên quốc gia. Không chỉ vận hành hàng loạt trại lừa đảo quy mô lớn ở Campuchia và Myanmar, Prince Group còn rửa hàng trăm triệu USD tiền bẩn qua hệ thống ngân hàng Hàn Quốc, fintech Singapore, bất động sản Dubai và quỹ đầu tư ở London (Anh).

Con chip niềm tin và chân dung doanh nhân poker khát nước

Con chip niềm tin và chân dung doanh nhân poker khát nước

Có những kẻ từng được ca ngợi là “người mở đường cho kỷ nguyên khởi nghiệp”, nhưng khi bức màn rơi xuống, người ta mới nhận ra đó không phải người mở đường mà là kẻ đào hố. Đào Minh Phú, trong nhiều năm, được nhắc đến như hình mẫu của một “doanh nhân 4.0”: năng động, sắc sảo, nói đâu trúng đó.

Sắp xếp, sáp nhập đại học Việt Nam theo hướng nào?

Sắp xếp, sáp nhập đại học Việt Nam theo hướng nào?

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã yêu cầu sáp nhập, giải thể các cơ sở giáo dục đại học không đạt chuẩn; nghiên cứu chuyển một số trường đại học về địa phương quản lý để đáp ứng tốt hơn yêu cầu đào tạo nhân lực của địa phương...