Nhà thơ Thạch Quỳ: Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc

Xứ Nghệ sản sinh vô số nhà thơ nổi tiếng, nhưng chủ yếu thành danh lập nghiệp nơi đất khách quê người. Cả đời chỉ sống bên dòng sông Lam mà vẫn định vị một sự nghiệp thơ như Thạch Quỳ là trường hợp hiếm hoi. Dân văn chương ghé qua Vinh, nếu không hẹn gặp nhà thơ Thạch Quỳ thì e chừng cũng kém lễ độ.

Sau mấy phút điện thoại, nhà thơ Thạch Quỳ xuất hiện, vẫn vóc dáng khắc khổ và khí phách ngang tàng quen thuộc. Những câu chuyện không đầu không cuối, cũng đủ để xác tín con người Thạch Quỳ và tác phẩm Thạch Quỳ là một thể thống nhất: lầm lũi, chân thành và sắc sảo!

Nhà thơ Thạch Quỳ sinh trưởng trong dòng họ Vương có truyền thống hiếu học ở Đô Lương (Nghệ An). Từ tên thật Vương Đình Huấn, ông bước vào làng thơ bằng bút danh Thạch Quỳ vì muốn làm một hòn đá trên núi Quỳ quê hương.

Như một cách tự giới thiệu, nhà thơ Thạch Quỳ từng viết một bài thơ miêu tả tỉ mỉ: “Núi Quỳ bé mà sao nhiều đá thế/ Tuổi chăn bò hốc đá trú mưa/ Hoa chổi rụng dưới cánh ong bò vẽ/ Đá trắng phơi đầy trời nắng trưa/ Em cắt củi chưa đầy đôi lạt buộc/ Đã ngồi nghiêng trên đá, tím môi sim”.

Có lẽ, chính sự im lặng của đá và sự nhẫn nại của đá, đã dạy Thạch Quỳ làm thơ. Chứ thời đi học, nhà thơ Thạch Quỳ vốn giỏi toán. Sau khi tốt nghiệp Đại học Vinh, thầy giáo Vương Đình Huấn cũng có đến 11 năm dạy toán ở trường trung học trước khi chuyển qua công tác ở Hội Văn nghệ, rồi đùng đùng bỏ đi... cuốc nương canh rẫy. Bây giờ, nhà thơ Thạch Quỳ đã 77 tuổi, chả làm gì nữa, nhưng cái tính gàn vẫn y nguyên.

Nhà thơ Thạch Quỳ được xếp vào thế hệ cầm bút chống Mỹ. Dấu vết thi ca phục vụ chiến đấu và sản xuất còn lưu lại trong nhiều bài thơ Thạch Quỳ có tên gọi như một bản tin thời sự, như Bài hát của những người nhổ cỏ năng cỏ lác ở vùng đồng chiêm trũng hoặc Mừng hợp tác xã Nhân Hòa trừ xong nạn sâu keo sau lụt.

Kiểu viết thật thà ấy, mỗi ngày được chưng cất tinh tế hơn, và trở thành phong cách thơ Thạch Quỳ. Ví dụ, bài thơ Tiễn em trai đi vào, tiễn em gái đi ra bật lên hai câu thật đáng nhớ: “Chúng tôi ngồi yên lặng dưới hàng cây/ Dưới cao vợi, sao dày như nếp nổ”.

Lối liên tưởng “sao dày như nếp nổ” rất dân dã và cũng rất bất ngờ. Lối liên tưởng này còn giúp Thạch Quỳ nhìn Trâu đi qua tuyến lửa khá đặc trưng: “Chân sưng húp hãy còn móng cứng/ Vượt trưa nắng đèo Ngang dốc dựng/ Xuống hố bom đầm nước lút mình/ Đỉnh sừng nhô hai hạt nếp trắng tinh”.

Khác với những bạn bè cầm bút đồng trang lứa đã rời xa nơi chôn nhau cắt rốn rồi ngoảnh lại mây trắng Hồng Lĩnh mà bồi hồi viết bao lời tha thiết, nhà thơ Thạch Quỳ sống tận tụy với xứ Nghệ và nhận diện được từng vẻ đẹp cồn cào của xứ Nghệ.

Nhà thơ Thạch Quỳ.
Nhà thơ Thạch Quỳ.

Ông không chỉ phác họa Đất Đô Lương trầm tích nắng mưa: “Vực Cóc đây thăm thẳm một hang trời/ Bè nứa chui vào ngỡ đi về xứ khác/ Nhớ lúa Ba Ra mỉm miệng cười/ Trắng xóa muôn nghìn thác bạc” mà ông còn phát hiện Con chim tà vặt độc đáo chốn mình dung thân bằng cái nhìn thật chi tiết: “Giữa núi trọc, đồi hoang/ Có con chim tà vặt/ Mỏ đỏ như than hồng/ Ngồi thu lu trên đá/ Khi ngồi thì mình đen/ Bay lên, cánh trắng lóa/ Đồi tiếp đồi, không cây/ Chỉ sim cằn và cỏ/ Chim quen đậu trên đá/ Chân khô như củi gầy...”.

Hơn nữa, cái vốn sống nông thôn dồi dào khiến ông có thể Hóng gió trên cánh đồng làng chan hòa với thiên nhiên: “Nước trong veo, con cá quả no mồi/ Lượn đủng đỉnh chào thăm từng gốc lúa/ Con cá ngửi vết chân bùn bỡ ngỡ/ Nổi mắt tròn ngơ ngác, nhận ra tôi”, và có thể thấu hiểu nỗi cơ cực của những người làm ruộng: “Nhổ lác, nhổ từng cây/ Nhổ năn, măn từng rễ/ Nước teo da bàn tay/ Bắp chân bầm máu đỉa/ Lưng cúi gập suốt ngày/ Ngửng lên, nghe nặng mặt/ Cúi xuống, vòng nước xoay”.

Thơ Thạch Quỳ không nhiều câu chữ bay bổng. Ông chủ trương bám lấy hiện thực, tắm trong hiện thực mà lặn ngụp sáng tác. Thỉnh thoảng, Thạch Quỳ mới có những vần điệu đắm đuối như: “Trời đã Tết, khói xanh mờ bụi nước/ Góc vườn em hoa mận đã đơm khuy/ Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc/ Cỏ thiên thanh hoa trắng đợi em về” hoặc như “Anh yêu em anh phạm lỗi thường tình/ Khó thức ngủ theo giấc giờ điều độ/ Có một nửa đang đi tìm một nửa/ Như vầng trăng ngoài cửa, phía trời xa”.

Và thỉnh thoảng, Thạch Quỳ mới có những phút giây cao giọng ngoa ngôn như: “Anh yêu em hơn thần thánh yêu nhau/ Một khẽ chạm tay rung toàn thân thể/ Và bởi vậy, tình yêu trần thế/ Đủ để thánh thần mơ ước trên cao”. Tuy nhiên, những khoảnh khắc lãng mạn của Thạch Quỳ không thể so được với những khoảnh khắc suy tư của Thạch Quỳ. Nói cách khác, thơ Thạch Quỳ là thứ thơ chiêm nghiệm.

Nhà thơ Thạch Quỳ ít phô diễn sự hào hoa. Ông làm thơ theo phương pháp quan sát và tìm tòi, lập ý rồi lập tứ. Đôi khi những câu thơ của ông kém mềm mại nhưng đầy biểu cảm: “Đất nơi đây đào nơi nào cũng đỏ/ Đập đá ra có ánh lửa ngời”. Bỏ qua nhạc tính của thơ, Thạch Quỳ trọng nghĩa của chữ hơn trọng âm của chữ. 

Ông nhìn vào sự vật rồi ông nhìn vào lòng mình, để những câu thơ gân guốc tượng hình một quan niệm thẩm mỹ: “Có mùi mật trong hoa/ Điều đó chú ong vàng cũng biết/ Có hương thơm ẩn giữa sắc màu/ Cái chuyện này, bướm tím biết từ lâu/ Nhưng bạn ạ, hương trầm trong gỗ mục/ Thì ong vàng, bướm tím có hay đâu...”.

Nhà thơ Thạch Quỳ luôn thao thức với thơ. Ông liên tục làm mới thơ mình bằng cách nhúng bút vào nhiều thể loại khác nhau. Thế nhưng, khi Thạch Quỳ nỗ lực viết những câu thật nghiêng ngả, thật say sưa thì thơ lục bát của ông cũng chỉ dừng ở mức thường thường bậc trung.

Chẳng hạn “Bây chừ gõ chén sông Hương/ Lanh canh phách nhịp bốn phương cung đình/ Một suông trăng ở Hoàng Thành/ Một trăng suông nhạt chòng chành dưới sông” hoặc “Dĩ nhiên cỏ mọc lên rồi/ Dấu chân cỏ lấp nụ cười vẫn nguyên/ Con đường như lạ như quen/ Nhớ em nhớ lúa, thương em thương đồng”.

Thạch Quỳ chỉ là Thạch Quỳ khi ông dằn vặt trong những suy nghĩ ngổn ngang của chính mình trước cuộc sống, trước thế tục, trước nhân quần. Thạch Quỳ suy nghĩ về những cuốn sách vẫn nằm im trong bụi phủ tháng năm: “Điều tôi biết, người xưa đã biết/ Cuộc phù du ớn lạnh ở da mình/ Em trong sạch và anh tinh khiết/ Muốn vào đời/ Không có giấy khai sinh”.

Rồi Thạch Quỳ suy nghĩ về những oan khuất lịch sử: “Dưới tảng đá này người đã ghìm cương/ Và nhận thấy móng rùa thật, giả/ Màu lông ngỗng ngây thơ trong trắng quá/ nên máu người phải đổ Mỵ Châu ơi.../ Ở đền Công con nghê đá không cười/ Màu ngói đỏ như màu của máu/ Con trai ngọc ôm khối hồng đau đáu/ Nghìn năm rồi nước mắt rửa không tan/ Dưới rừng thông xanh biếc của thời gian/ Trưa nay nắng, tôi về thăm dấu cũ/ Vệt máu ngỡ khô rồi trên kiếm gỗ/ Bỗng sáng lên như nói một điều gì...”.

Và Thạch Quỳ suy nghĩ về những số phận từ trắc ẩn riêng tư: “Tôi một nửa nam mô, một nửa A men/ Một phía ngóng trời, một phần ngóng đất/ Thân thể tôi như chiếc cột ăng ten/ Vừa phát sóng vừa tự mình gỉ sét/ Điều tôi nói chừng chúa trời chưa biết/ Phật chưa tin và trời cứ làm thinh/ Tôi nhỏ nhoi tồn tại chính mình/ Nhân danh một chính mình tồn tại/ Sân chùa cứ rụng đầy hoa đại/ Thánh giá cao chót vót tận vòm mây/ Tôi vẫn đi lầm lụi giữa xuân này/ Mưa bụi thấm lông tơ đầy mặt áo”.

Có một dạo tên tuổi Thạch Quỳ được đồn thổi rất nhiều vì vướng vào một nghi án “chính trị hóa thi ca”. Bài thơ Với con của ông in trên Báo Văn nghệ năm 1979, bị hiểu nhầm có nội dung xấu. 

Thực chất, chỉ là cách thổ lộ bộc trực: “Con ơi con thức dậy giữa ngày thường/ Nghe chim hót đừng nghe mê mải quá/ Qua đường đất đến con đường sỏi đá/ Cha e con đến lớp muộn giờ”. Tấm lòng của người cha với đứa con, không chỉ được Thạch Quỳ phản ánh trong thơ, mà còn thể hiện ngay ở hành động.

Năm 1988, được sang tập huấn ba tháng tại Học viện Gorki, nhà thơ Thạch Quỳ đã một mình từ Mátxcơva lặn lội gần 4.000 cây số đến tận vùng tuyết trắng Siberia để thăm đứa con đang hợp tác lao động tại đây. Không biết tiếng Nga, nhưng vì tình thương con, Thạch Quỳ vẫn leo lên tàu lửa với một cuốn sổ ghi những thông tin cần thiết về bản thân và về mục đích chuyến đi. 

Cuốn sổ ấy, Thạch Quỳ gọi là “sổ ăn mày”, một bên ghi tiếng Việt và một bên ghi tiếng Nga, có nhu cầu gì thì Thạch Quỳ di ngón tay từ câu tiếng Việt sang câu tiếng Nga để hỏi thăm người xung quanh. Phiêu lưu quá, mạo hiểm quá.

Vậy mà, kỳ lạ thay, Thạch Quỳ vẫn thực hiện trót lọt hành trình xuyên nước Nga rộng lớn. Bí quyết là gì? Thạch Quỳ bảo, nhờ ông xưng danh là nhà thơ Việt Nam, nên người ta cho ăn, cho uống và hướng dẫn chu đáo. 

Thạch Quỳ trổ tài đọc thơ bằng tiếng Việt cho người Nga thưởng thức, với điệu bộ mô phỏng y hệt Mayakovsky, nghĩa là cũng ngửa mặt, nhắm mắt, vung tay lên hạ tay xuống, bước chân tới bước chân lui...

Năm 1991, bài thơ Với con được in lại trên Báo Nhân dân, xóa tan mọi hiềm khích mà người ta cố gán ghép cho Thạch Quỳ: “Con ơi con, trái đất thì tròn/ Mặt trăng sáng cũng tròn như đĩa mật/ Tất cả đấy đều là sự thật/ Nhưng cái bánh đa tròn, điều đó thật hơn/ Mẹ hát lời cây lúa để ru con/ Cha cày đất để làm nên hạt gạo/ Chú bộ đội ngồi trên mâm pháo/ Bác công nhân quai búa, quạt lò/ Vì thế nên, lời cha dặn dò/ Cũng chưa hẳn đã là điều đúng nhất/ Cha mong con lớn lên chân thật/ Yêu mọi người như cha đã yêu con”.

Ông đồ gàn xứ Nghệ - Thạch Quỳ hôm nay vẫn ốm nhom và vẫn mẫn cảm “Giữa cuộc đời lẫn lộn cả buồn vui/ Tiếng chim cũng tiếng lành tiếng dữ”. Thạch Quỳ sống trọn vẹn với thơ, tự tin và tự trọng: “Ta bát ngát thôn quê, từ làng đến phố/ Và sống ở ngôi nhà không cửa sổ/ Bốn tường kia cửa bít kín mất rồi/ Lối đi về ta mở. Tự ta thôi!”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.