Hơn 840.000 vụ khiếu nại, tố cáo và sự bất cập của hệ thống pháp luật về đất đai
Có lẽ hiếm lĩnh vực nào lại có nhiều văn bản quy phạm pháp luật như đất đai. Theo báo cáo của Chính phủ hiện nay ngoài Luật Đất đai 2003 còn 20 luật có nội dung liên quan đến đất đai, 22 Nghị định của Chính phủ, 12 Chỉ thị, 17 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 230 văn bản của các bộ, ngành liên quan khác.
Ông Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình) thống kê rằng từ năm 2003 đến nay, có 455 văn bản ban hành, chưa tính các văn bản của các tỉnh, thành phố trực thuộc, tính trung bình mỗi năm có gần 100 văn bản, nguyên nhân là do tính phức tạp của lĩnh vực đất đai, do hạn chế của việc quy hoạch thiếu cụ thể, thiếu rõ ràng. Do thiếu tầm nhìn và chưa lường hết mọi vấn đề do dự báo kém, do một số cán bộ tham mưu chưa tốt, không cập nhật được những vấn đề có thể xảy ra, nên văn bản vừa ban hành đã lỗi thời, đã lạc hậu cần văn bản khác thay thế.
Nói như ông Dương Hoàng Hương (Phú Thọ) là "số lượng văn bản được ban hành trong thời gian qua là quá lớn, ngay cả những người trực tiếp làm chuyên môn về quản lý đất đai cũng phản ảnh rằng để có thể tiếp thu được một cách đầy đủ, ghi nhớ được một cách có hệ thống, các quy định liên quan đến đất đai thì không phải là điều dễ dàng".
Điều đáng nói là mặc dù có rất nhiều văn bản như vậy, nhưng mâu thuẫn ở chỗ các văn bản pháp luật, nhất là các văn bản hướng dẫn thực thi lại chồng chéo, bà Nguyễn Thị Kim Bé (Kiên Giang) đưa ra ví dụ: "Tại Điều 22 của Nghị định 69 ban hành ngày 13/8/2009 về quy định bổ sung và quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư. Trong đó có quy định về vấn đề hỗ trợ chuyển đổi nghề cho các hộ gia đình có đất bị thu hồi, để xác định như thế nào là hộ gia đình trực tiếp sản xuất thì tại Điều 14, Thông tư 14 ban hành ngày 11/10/2009 về hướng dẫn thi hành Nghị định 69 có quy định phải dẫn chiếu đến 5 nghị định khác gồm: Nghị định 64, Nghị định 02, Nghị định 85, Nghị định 163 và Nghị định 181 để thực hiện các điều khoản trên, mặc dù là một số nghị định này hiện nay đã hết hiệu lực. Một ma trận trong các văn bản hướng dẫn thi hành như đã nêu trên đã tạo ra một sự rối cho cơ sở khi thực hiện".
Là người đứng đầu doanh nghiệp về xây dựng công trình giao thông và bất động sản, thường xuyên phải tham gia vào công tác giải phóng mặt bằng, ông Thân Đức Nam, Chủ tịch Hội đồng thành viên Cienco5 (Đà Nẵng) cho rằng Luật Đất đai quy định khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất bồi thường theo giá thị trường có nghĩa là Nhà nước mua lại quyền sử dụng đất đã giao kể cả đất giao không thu tiền như đất nông nghiệp.
Thực hiện Nghị định 69 về đền bù giải tỏa thì phải đền bù theo giá thị trường thực chất nhà đầu tư phải mua quyền sử dụng đất theo giá thị trường thông qua cơ chế bồi thường và hỗ trợ trong nhiều trường hợp hỗ trợ lớn hơn nhiều so với bồi thường đất nông nghiệp. Khi chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang đất ở nhà đầu tư phải nộp cho Nhà nước 100% giá đất cho địa phương quy định tức là phải mua của Nhà nước một lần quyền sử dụng đất. Nếu Nhà nước quy định giá đất tiếp cận với giá thị trường thì thực chất nhà đầu tư phải mua đất hai lần. Các quy định như trên vô hình trung khuyến khích đầu cơ đất nông nghiệp của một bộ phận người dân, nên thực tế người nông dân có đất không được lợi nhiều khi được đền bù cao.
Một bất hợp lý nữa là việc bồi thường hai giá đất đối với công trình công ích và công thương gây bức xúc cho người dân. Trên một địa bàn, hiện trạng sử dụng đất giống nhau, nhưng nếu là dự án công ích thì chỉ được bồi thường theo giá Nhà nước, nhưng nếu được quyết định là dự án thương mại thì thương lượng với giá đất sử dụng theo giá thị trường. Trong nhiều trường hợp, hai loại giá này chênh lệch hàng chục lần nên người dân đi khiếu kiện.
"Người dân cho rằng công trình công ích, ví dụ như giao thông được xã hội sử dụng mà chỉ cá nhân họ bị chịu thiệt thòi là bất hợp lý. Người dân đặt vấn đề tại sao Nhà nước không điều tiết giá đền bù giữa hai loại dự án để dẫn đến việc đền bù phải công bằng, dựa theo hiện trạng sử dụng đất, chứ không nên theo mục đích sử dụng đất trong tương lai, bất luận mục đích sử dụng đất là gì. Sau khi Nghị định 69 được áp dụng. Nhiều dự án đầu tư hạ tầng giao thông gặp khó khăn nghiêm trọng, chậm tiến độ, tắc nghẽn dự án gây tác hại đối với Nhà nước và doanh nghiệp đầu tư".
Văn bản pháp luật nhiều nhưng không phù hợp với thực tế, hệ thống pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, thiếu đồng bộ, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Đất đai có các quy định không thống nhất trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân dẫn tới tình trạng khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai đang chiếm tới 70% số vụ khiếu nại, tố cáo.
Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ, từ năm 2003 đến năm 2010 các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp nhận và xử lý 1.219.625 đơn thư khiếu nại, tố cáo trong đó đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai bình quân hàng năm chiếm 69,79%. Riêng từ năm 2008-2011, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận, xử lý 672.990 đơn thư. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo cho thấy: có 19,8% số vụ khiếu nại đúng, 28% có đúng có sai và 52,2% là sai; số vụ tố cáo đúng chiếm 16,2%, có đúng có sai chiếm 29,6% và sai chiếm 54,2%. Trong đó 70% nội dung khiếu nại, tố cáo liên quan tới các quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Không những thế, chính sự bất cập của hệ thống pháp luật về đất đai đã trở thành cơ hội cho một bộ phận cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi.
Vì vậy, qua công tác thanh tra từ năm 2003 đến năm 2011 đã phát hiện và xử lý trả lại cho công dân 1.850 tỉ đồng, 4.817,8ha đất; khôi phục quyền lợi cho 6.921 công dân; kiến nghị xử lý hành chính 6.650 người; chuyển Cơ quan điều tra 380 vụ với 665 đối tượng.
Xử lý thế nào?
Ông Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình) đề nghị Nhà nước phải quan tâm, chia sẻ với những khó khăn của nhân dân và đặc biệt quan tâm giải quyết những vấn đề mà công dân khiếu kiện, khiếu nại đúng. Phải có quy định rõ những ai vi phạm làm công dân mất thời gian khiếu kiện thì phải đền bù và cũng xử lý nghiêm khắc những cá nhân cố tình không chấp hành pháp luật, không hiểu pháp luật để khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo kéo dài. "Tôi không đồng tình với cách xử lý là có một số đối tượng ở các tỉnh về Hà Nội gia nhập với một số băng nhóm, bị lôi kéo, sau đó Chính phủ lại yêu cầu các tỉnh phải ra để đưa về".
Theo Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh, từ tháng 6 cho đến tháng 10/2012, Thanh tra Chính phủ (TTCP) cùng với các bộ, ngành đã thành lập 28 tổ công tác đi làm việc tại 53 tỉnh, thành phố. Qua rà soát, hiện còn tồn tại 528 vụ việc.
528 vụ này về tính chất, mức độ rất khó khăn. Nhiều vụ việc kéo dài, phức tạp, chồng chéo và phải giải quyết đi, giải quyết lại nhiều lần. Trên cơ sở khó khăn đó, TTCP thấy có 4 vấn đề:
Phải xem lại trách nhiệm của một số nơi giải quyết chưa đầy đủ về mặt trách nhiệm. Vừa qua phát hiện đùn đẩy, tránh né, giải quyết không đến nơi, đến chốn, kéo dài, vừa gây bức xúc cho người khiếu nại, vừa gây bức xúc cho xã hội.
Về yếu tố lịch sử thì hồ sơ, thủ tục pháp lý không đầy đủ. Bà con để đất dài. Có những trường hợp mấy chục năm, từ thời xây dựng tập đoàn hợp tác xã rồi tách ra.
Nhiều vụ việc giải quyết đã hết thẩm quyền, hết cách rồi nhưng dân vẫn tiếp diễn. Hầu hết các vụ này là đã ba, bốn quyết định. Mặt khác, do chính sách bồi hoàn, thu hồi đất thời gian sau bảo đảm tốt hơn trước đây cho nên người dân bị thu hồi đất trước đây cảm thấy bị thiệt thòi cho nên tiếp tục khiếu nại.
Một số bà con bị kích động, hiểu pháp luật chưa nhiều cho nên tiếp khiếu vượt cấp.
Vì vậy, sắp tới TTCP sẽ tiếp tục tập trung thực hiện các biện pháp để chấm dứt khiếu nại công dân trên tinh thần bảo đảm về mặt chất lượng và ổn định tình hình. Làm sao hạn chế được tiếp khiếu đến mức tối đa.
Việc hạn chế tiếp khiếu có hai hình thức:
Một là khi đối thoại làm rõ rồi thì người dân tự nguyện chấm dứt khiếu kiện.
Hai là khi đã xem xét đúng pháp luật, thấu lý đạt tình rồi thì công bố công khai chấm dứt khiếu kiện, tức là không thụ lý.
Theo ông Huỳnh Phong Tranh, TTCP đưa ra 4 biện pháp để giải quyết:
Tiếp tục thống nhất các phương án giải quyết giữa Trung ương, địa phương phải tạo tiếng nói chung, phải cả hai hệ thống chính trị cả Trung ương, địa phương tạo tiếng nói chung, phải phối hợp chặt chẽ với nhau theo thẩm quyền và theo luật định.
Muốn chấm dứt khiếu kiện trước hết phải tổ chức họp liên ngành, kể cả về hệ thống nhà nước, các cơ quan nhà nước, đoàn thể Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, Hội Luật gia và mời đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương tham gia để tạo sự đồng thuận trong toàn hệ thống chính trị.
Tổ chức đối thoại công khai với người dân, có thể mời luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi người khiếu nại.
Khi đã có quyết định có hiệu lực pháp luật rồi thì triển khai quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật và thông báo cho các phương tiện thông tin đại chúng để chấm dứt thụ lý, chấm dứt khiếu nại, cũng như ý kiến của một số đại biểu đã đề nghị. Đồng thời chúng tôi cũng xây dựng cơ sở dữ liệu để theo dõi cập nhật khiếu nại, tố cáo. Song song với phải quan tâm phát hiện giải quyết các phát sinh mới. Hiện nay ngoài 528 vụ việc tồn đọng, kéo dài thì vụ việc phát sinh mới rất nhiều, cho nên phải quan tâm cả hai: một là tập trung hoàn thành cơ bản việc tồn đọng, mặt khác quan tâm giải quyết những phát sinh mới theo quy định của luật và những yêu cầu mới của công dân.
Người đứng đầu TTCP kiến nghị với Quốc hội:
Thứ nhất, các đoàn đại biểu Quốc hội địa phương, đại biểu Quốc hội cần tích cực tham gia để tạo sự đồng thuận và tiếng nói chung khi tham gia các vụ việc giải quyết khiếu nại tại địa phương. Song song đó chúng tôi đề nghị Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, lần này Quốc hội giám sát tối cao nhưng tôi đề nghị thường xuyên hoặc do một ủy ban giám sát chuyên đề thường xuyên về việc này để góp phần cho giải quyết khiếu nại, tố cáo hiệu quả hơn.
Thứ hai, sau kỳ họp lần này, sau giám sát này đề nghị Quốc hội ra nghị quyết. Nghị quyết gồm có nội dung về các giải pháp chung nhưng cần có các giải pháp cụ thể.
Thứ ba là phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với nhau, hiện nay việc phối hợp không chặt, không đồng bộ và chưa thực sự có tiếng nói chung.
Thứ tư là trách nhiệm của người đứng đầu trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Thứ năm là chính sách đào tạo và đãi ngộ cán bộ làm công tác tiếp công dân giải quyết khiếu nại. Chúng tôi đề nghị Quốc hội trên mức độ có thể được thì Quốc hội ra một nghị quyết, trong giải pháp chung chúng tôi đề nghị nêu 5 vấn đề đó để làm cơ sở cho triển khai đồng bộ sau này.
Theo Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang, để giải quyết tình trạng khiếu nại, tố cáo như hiện nay, việc đầu tiên là cần sửa luật và các văn bản liên quan đến Luật Đất đai. Bộ TN&MT đã tham mưu cho Chính phủ kỳ họp sau nữa Bộ sẽ trình dự thảo luật sửa đổi Luật Đất đai năm 2003.
"Hiện nay có rất nhiều văn bản khác liên quan, tức là có các bộ luật khác liên quan đến sửa đổi Luật Đất đai, có thể Luật Đất đai này sửa đổi để giải quyết những vấn đề chúng ta đặt ra hiện nay nhưng nó lại liên quan đến các luật khác. Ví dụ như Bộ Luật dân sự liên quan đến vấn đề tài sản, các luật khác, Luật Khiếu nại, tố cáo rõ ràng về các luật này chúng tôi kiến nghị với Quốc hội sau này cũng cần có thể xem xét, có những vấn đề trong Luật Đất đai sửa được nhưng các luật khác không sửa thì việc thực hiện hết sức khó khăn".
Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cũng kiến nghị, phải chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai của tất cả các cấp; nâng cao về hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp của bộ, của các địa phương. “Chúng ta cần quan tâm những đề xuất, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân để làm hết trách nhiệm của mình với dân”