Liên tiếp các vụ ngộ độc thực phẩm trong thời qua đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc mất vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) từ thức ăn đường phố, bếp ăn tập thể, từ thực phẩm không đảm bảo chất lượng... Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể và thức ăn đường phố đều tăng so với cùng kỳ, với 58 vụ ngộ độc thực phẩm khiến 1.573 người mắc và 10 trường hợp tử vong.
Để giải quyết vấn đề bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm mang tính dài hạn, chiến lược và xuyên suốt, các bộ, ngành liên quan đã và đang phối hợp triển khai nhiều giải pháp mới, đồng bộ.
Với mong muốn chung tay cùng cộng đồng ngăn chặn thực phẩm bẩn, bảo vệ sức khỏe người dân, hôm nay, Báo CAND phối hợp với Công ty Cổ phần hàng tiêu dùng Masan tổ chức Diễn đàn "Ngăn chặn thực phẩm bẩn - Trách nhiệm và hành động”.
Sáng 2/7, Báo CAND tổ chức Diễn đàn "Ngăn chặn thực phẩm bẩn - Trách nhiệm và hành động”.
Tham dự diễn đàn về phía Báo CAND có:
- Đại tá Trần Hồng Thanh, Phó Tổng biên tập Báo CAND
- Thượng tá Phan Đăng Trường, Phó Tổng biên tập Báo CAND
Các đồng chí lãnh đạo các Ban của Báo CAND, cán bộ chiến sĩ, PV của Báo CAND
Đến dự và đưa tin tọa đàm, có sự tham dự của 20 cơ quan thông tấn báo chí trung ương và Hà Nội.
Về phía khách mời có:
Khách mời
Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, Thành viên Hội đồng trọng tài quốc tế Việt Nam
Bà Trần Thị Dung, Phó Chủ tịch Hội bảo vệ người tiêu dùng
TS Nguyễn Thị Điệp, Trưởng phòng Dịch tễ thú y (Cục Chăn nuôi và Thú y)
TS.BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai
Thượng tá, TS Lê Thị Hương Giang, Trưởng Khoa Tiết chế Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8, Bộ Công an
Bà Lê Thị Hường, Giám đốc Khối Quản lý Chất lượng Chuỗi siêu thị WinMart/WinMart+
Ông Trần Việt Hùng, Trưởng phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương)
Đại tá Trần Viết Phương, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường, Bộ Công an
TS.Dược sĩ Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế
Phát biểu đề dẫn tại diễn đàn
Phát biểu đề dẫn diễn đàn, Đại tá Trần Hồng Thanh cho biết, thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân. Bảo đảm ATTP không chỉ là vấn đề sức khỏe cộng đồng mà còn là thước đo của chất lượng quản trị xã hội, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân đối với cộng đồng.
Những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và thị trường tiêu dùng, công tác bảo đảm ATTP đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những vụ việc vi phạm gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng và tác động tiêu cực đến môi trường sản xuất, kinh doanh chân chính.
Ngăn chặn thực phẩm bẩn vì thế không thể chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước hay lực lượng chức năng. Đây là trách nhiệm chung của toàn xã hội, từ người sản xuất, doanh nghiệp phân phối, cơ quan truyền thông cho đến mỗi người tiêu dùng.
Bên cạnh việc tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, cần đặc biệt chú trọng xây dựng và nhân rộng những mô hình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm an toàn; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư bài bản vào công nghệ, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang kiên trì theo đuổi mục tiêu cung cấp các sản phẩm an toàn, chất lượng cho người dân. Trong đó, Tập đoàn Masan là một trong những doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực đầu tư vào chuỗi giá trị thực phẩm, từ sản xuất đến phân phối, góp phần mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về thực phẩm an toàn và tiện ích.
Với mong muốn tạo thêm một diễn đàn trao đổi thẳng thắn, đa chiều và mang tính xây dựng, hôm nay Báo Công an nhân dân phối hợp với Công ty cổ phần hàng tiêu dùng Masan tổ chức Diễn đàn "Ngăn chặn thực phẩm bẩn – Trách nhiệm và hành động".
Thay mặt Ban tổ chức diễn đàn "Ngăn chặn thực phẩm bẩn – Trách nhiệm và hành động", Đại tá Trần Hồng Thanh kỳ vọng các ý kiến tại diễn đàn sẽ không chỉ dừng lại ở việc nhận diện những tồn tại, bất cập mà còn đề xuất được những giải pháp thiết thực, khả thi; từ đó góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò của doanh nghiệp và nâng cao nhận thức của người dân trong cuộc đấu tranh vì một môi trường thực phẩm an toàn, lành mạnh.
Thưa các vị khách mời, cuộc chiến đấu tranh, ngăn chặn thực phẩm bẩn, cần sự vào cuộc mạnh mẽ của lực lượng chức năng.
Trong các lực lượng đấu tranh, truy quét các ổ nhóm, đường dây kinh doanh thực phẩm bẩn, Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường luôn đóng một vài trò tiên phong, nòng cốt.
Sau đây, tôi xin trân trọng giới thiệu Đại tá Trần Viết Phương, Phó Cục trưởng tham luận về công tác đấu tranh và biện pháp ngăn chặn, truy quét thực phẩm bẩn, cùng những kiến nghị, đề xuất.
Xin kính mời Đại tá!
Lực lượng Công an đột phá trong công tác đấu tranh với thực phẩm bẩn
ATTP là quyền thiết thân của mỗi người dân; đồng thời là điều kiện bảo đảm chất lượng dân số, sức khỏe cộng đồng, năng suất lao động, trật tự thị trường và niềm tin xã hội.
Bữa ăn hằng ngày của nhân dân là nơi pháp luật, đạo đức kinh doanh và năng lực quản lý nhà nước được kiểm chứng trực tiếp. Bởi vậy, chúng ta không thế nói đến phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế có sức cạnh tranh hay củng cố niềm tin xã hội nếu thực phẩm giả, thực phẩm không rõ nguồn gốc, nguyên liệu nhiễm bệnh, hóa chất cấm và hành vi gian dối có tổ chức còn có thể thâm nhập thị trường.
Vi phạm pháp luật về ATTP đã thay đổi cả về phương thức và quy mô. Bên cạnh vi phạm nhỏ lẻ, tự phát, đã phát hiện các hoạt động tố chức theo chuỗi, có sự phân công vai trò, có pháp nhân che chăn, có hồ sơ hợp thức hóa, có quảng cáo, kho vận, phân phối và thanh toán điện tử. Trong nhiều vụ việc, sản phẩm vi phạm chỉ là phần nổi; phía sau là cả một hệ sinh thái gian dối được hình thành từ đầu vào, công thức; công bố, kiểm nghiệm, ghi nhãn, quảng cáo đến tiêu thụ và che giấu lợi ích bất chính.
Đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về ATTP vì vậy không thể dừng ở việc kiểm tra một cơ sở, thu giữ một lô hàng hoặc xử lý một hành vi đơn lẻ. Cân quản trị rủi ro theo chuỗi, phát hiện từ sớm, ngăn chặn từ xa, điều tra đến người tố chức, người chỉ đạo, người hưởng lợi cuối cùng; đồng thời bịt kín những sơ hở, thiếu sót trong mô hình quản trị chuyên ngành, chính sách pháp luật, tổ chức thực thi, dữ liệu quản lý và cơ chế tài chính đã bị lợi dụng.
Thời gian qua, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã phối hợp với Văn phòng Bộ Công an, các đơn vị nghiệp vụ và Công an địa phương tham mưu lãnh đạo Bộ chỉ đạo tổng rà soát, phát hiện, đấu tranh, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm. Kế hoạch số 267/KH-BCA-C05, Kế hoạch số 64/KH-BCA, Kế hoạch số 440/KH-BCA-BCT ngày 2/6/2026 và Kế hoạch số 1425/KH ngày 4/6/2026 đã tạo khuôn khổ để huy động lực lượng, phân công trách nhiệm và triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, nhất là đối với hoạt động vi phạm trên không gian mạng.
Sáu tháng đầu năm 2026, lực lượng Công an phát hiện, xử lý 5.992 tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, tăng 102% so với cùng kỳ năm 2025; khởi tố 123 vụ án với 249 bị can, tăng 351% về số vụ và 442% về số bị can. Một số địa phương có kết quả nỗi bật gồm: Thành phố Hồ Chí Minh 12 vụ, 32 bị can; Hải Phòng 8 vụ, 25 bị can; Hưng Yên 9 vụ, 15 bị can; Phú Thọ 6 vụ, 8 bị can; Hà Nội 4 vụ, 11 bị can; Bắc Ninh 8 vụ, 13 bị can.
Lực lượng Công an cũng xử lý hành chính 5.883 vụ, liên quan 573 tổ chức và 5.310 cá nhân, phạt tiền hơn 61 tỷ đồng; chuyến cơ quan có thẩm quyền xử lý 1.004 vụ, liên quan 126 tổ chức và 883 cá nhân, với số tiên phạt 32,6 tỷ đồng.
Qua đấu tranh, nhiêu vụ việc nghiêm trọng đã được phát hiện, kịp thời ngăn chặn thực phẩm không bảo đảm an toàn tiếp tục lưu thông: Sử dụng thịt lợn nhiễm dịch để chế biển thực phẩm; sử dụng gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh để chế biển suất ăn cho trường học; sử dụng khoảng 130 tấn thịt lợn nhiễm dịch để sản xuất thực phẩm chế biến; sử dụng 6- Benzylaminopurine trong sản xuất giá đổ; sử dụng hóa chất công nghiệp trong sơ chế thực phẩm; sản xuất gia vị giả, thịt giả, muối i-ốt giả, thực phẩm bổ sung và thực phẩm bảo vệ sức khỏe giả. Việc phát hiện, khởi tố các vụ án đã hạn chế đáng kể nguy cơ xâm hại sức khỏe cộng đồng, đồng thời tạo tác động cảnh báo đối với thị trường.
Điều đáng ghi nhận không chỉ là số vụ việc được phát hiện tăng lên. Nhiều hành vi trước đây tại một số địa phương thường dừng ở xử lý hành chính, nay đã được nhận diện đúng bản chất, chủ động củng cố tài liệu, chứng cứ để khởi tố, điều tra hình sự. Đây là chuyển biến về tư duy nghiệp vụ, năng lực đánh giá dấu hiệu tội phạm và ý thức trách nhiệm trong bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Tuy nhiên, cần đánh giá thẳng thắn, khách quan: Kết quả đấu tranh, xử lý thời gian qua dù rất quyết liệt nhưng chưa thể coi là tương xứng với tính chất, quy mô, phương thức, thủ đoạn và nguy cơ thực tế của tình hình. Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh rất lớn; chuỗi cung ứng kéo dài; gia công, đóng gói, kho lạnh, phân phối, quảng cáo và tiêu thụ ngày càng phức tạp; thương mại điện tử phát triển nhanh; nhiêu hành vi được che giấu dưới vỏ bọc pháp nhân, hóa đơn, hợp đồng, hồ sơ công bố và kết quả kiểm nghiệm.
Phát huy những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, Cục Cánh sát Phòng chống tội phạm về môi trường sẽ tiếp tục chủ trì, phối hợp với Văn phòng Bộ tham mưu lãnh đạo Bộ chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc Công an các đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các kế hoạch về đấu tranh với các vi phạm pháp luật về ATTP.
Đồng thời, tham mưu lãnh đạo Bộ phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ liên quan khẩn trương hoàn thiện Đề án quản lý nhà nước về ATTP theo hướng quy định thống nhất 1 đầu mối bảo đảm thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở; hoàn thiện dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); ban hành Nghị định thay thế Nghị định 15/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật An toàn thực phẩm; sửa đổi, bổ sung Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 4/9/2018 quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP.
Tham mưu lãnh đạo Bộ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về “Một số nhiệm vụ cấp bách nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục”. Tiếp tục tham mưu với Đảng ủy Công an Trung ương hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền ban hành Đề án:“Tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm”.
Cùng với đó, tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Công an các địa phương chấn chỉnh, nâng cao chất lượng công tác, nắm tình hình, quản lý địa bàn, đối tượng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tăng cường khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh tội phạm và vi phạm pháp luật về ATTP.
Trong bối cảnh các loại bệnh dịch, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, việc kiểm soát dịch bệnh từ cơ sở chăn nuôi là yếu tố then chốt để bảo vệ người chăn nuôi. Ngăn ngừa dịch bệnh cũng là biện pháp kiểm soát hữu hiệu để giảm thiểu tình trạng bán tháo, bán chạy gia súc, gia cầm ra thị trường.
Sau đây, Ban tổ chức xin mời bà Nguyễn Thị Điệp, Trưởng phòng Dịch tễ thú y, Cục Chăn nuôi và Thú y tham luận về thực trạng dịch bệnh cũng như các biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa từ các cơ sở chăn nuôi.
Xin kính mời bà!
Kiểm soát dịch bệnh từ cơ sở là chìa khóa bảo vệ chuỗi cung ứng thực phẩm
Kiểm soát dịch bệnh từ cơ sở chăn nuôi là khâu rất quan trọng để bảo vệ đàn vật nuôi, bảo vệ sinh kế người chăn nuôi và góp phần hạn chế nguy cơ động vật, sản phẩm động vật mắc bệnh, không bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y đi vào thị trường.
Hiện nay, dịch bệnh vẫn là nguy cơ thường trực đối với sản xuất chăn nuôi. Một số bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi, Cúm gia cầm, Lở mồm long móng, Viêm da nổi cục vẫn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh, lây lan. Nguy cơ này thường cao hơn tại những địa bàn có chăn nuôi nhỏ lẻ, điều kiện an toàn sinh học chưa bảo đảm, kiểm soát con giống, vận chuyển, giết mổ, mua bán động vật và sản phẩm động vật còn khó khăn.
Bà Nguyễn Thị Điệp, Trưởng phòng Dịch tễ thú y - Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
Đối với Dịch tả lợn Châu Phi, từ đầu năm đến ngày 30/6/2026, cả nước ghi nhận 700 ổ dịch tại 28 tỉnh, thành phố; số lợn chết, buộc tiêu hủy là 97.659 con; hiện còn 105 ổ dịch thuộc 17 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày. Những con số này cho thấy nguy cơ dịch bệnh vẫn hiện hữu và cần tiếp tục được giám sát, cảnh báo và xử lý kịp thời.
Dịch bệnh động vật trước hết gây thiệt hại trực tiếp cho người chăn nuôi. Khi dịch xảy ra, người chăn nuôi mất đàn vật nuôi, mất vốn đầu tư, bị ảnh hưởng thu nhập, thậm chí có hộ rơi vào khó khăn nếu dịch lây lan nhanh, xử lý không kịp thời. Với các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi, thiệt hại không chỉ nằm ở số lượng vật nuôi phải tiêu hủy, mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch tái đàn, nguồn cung thực phẩm, giá cả thị trường và tâm lý sản xuất.
Từ thiệt hại kinh tế đó, nếu dịch bệnh không được phát hiện, khai báo, khoanh vùng và xử lý kịp thời, có thể xuất hiện nguy cơ một số tổ chức, cá nhân vì tiếc tài sản hoặc vì lợi ích trước mắt mà bán chạy, vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, động vật chết hoặc sản phẩm của chúng trái quy định. Đây là nguy cơ cần được ngăn chặn từ sớm, bởi hành vi này vừa làm lây lan dịch bệnh, vừa ảnh hưởng đến trật tự thị trường và niềm tin của người tiêu dùng.
Vấn đề đặt ra là phải kiểm soát như thế nào để dịch bệnh không bị phát hiện muộn, không xử lý chậm và không tạo áp lực khiến người dân bán chạy, giết mổ chạy. Trong phòng, chống dịch bệnh động vật, thời điểm phát hiện có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu phát hiện sớm, khai báo sớm, xử lý sớm thì ổ dịch có thể được khoanh vùng trong phạm vi hẹp, thiệt hại giảm, nguy cơ lây lan giảm và tâm lý bán chạy cũng giảm. Ngược lại, nếu che giấu dịch, khai báo chậm, xử lý chậm, dịch có thể lan rộng, thiệt hại tăng lên và việc kiểm soát sẽ khó khăn hơn nhiều.
Do đó, cơ sở chăn nuôi phải được coi là điểm đầu tiên của hệ thống cảnh báo nguy cơ. Chính quyền cơ sở, thú y cơ sở và cơ quan chuyên môn địa phương cần tiếp nhận kịp thời, kiểm tra, hướng dẫn, phối hợp lấy mẫu xét nghiệm khi cần thiết, khoanh vùng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, cách ly, tiêu hủy hoặc xử lý động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh theo quy định. Điều quan trọng là không để đứt gãy thông tin dịch bệnh ở cơ sở; khi có dấu hiệu bất thường phải có người tiếp nhận, có người kiểm tra, có người hướng dẫn và có cơ chế xử lý kịp thời.
Luật Thú y và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm như: Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh, chết do bệnh truyền nhiễm; không chấp hành biện pháp phòng, chống dịch bệnh; vứt động vật mắc bệnh, chết và sản phẩm của chúng ra môi trường; vận chuyển động vật mắc bệnh, sản phẩm động vật mang mầm bệnh ra khỏi vùng có dịch khi không được phép; không tiêu hủy hoặc tiêu hủy không đúng quy định.
Pháp luật cũng quy định rõ trách nhiệm của chủ cơ sở chăn nuôi trong giám sát dịch bệnh tại cơ sở. Đáng chú ý, Nhà nước không chỉ quy định nghĩa vụ và chế tài, mà còn có chính sách hỗ trợ để người chăn nuôi, cơ sở sản xuất yên tâm khai báo, phối hợp xử lý dịch bệnh đúng quy định.
Đây là điểm rất quan trọng, muốn người dân không giấu dịch, không bán chạy, thì ngoài tuyên truyền, kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm, cần tổ chức tốt chính sách hỗ trợ để người chăn nuôi yên tâm khai báo và hợp tác chống dịch.
Kiểm soát dịch bệnh từ cơ sở chăn nuôi là khâu đầu vào quan trọng, nhưng để ngăn ngừa nguy cơ động vật, sản phẩm động vật mắc bệnh, không rõ nguồn gốc, không bảo đảm yêu cầu vệ sinh thú y đi vào thị trường thì cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng.
Ngành chăn nuôi và thú y có vai trò chuyên môn trong giám sát, cảnh báo, hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh động vật theo thẩm quyền. Chính quyền địa phương, nhất là cấp xã, giữ vai trò tổ chức thực hiện trực tiếp tại địa bàn, tiếp nhận khai báo, kiểm tra, phối hợp lấy mẫu, tổ chức cách ly, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, tiêu hủy và kiểm soát vận chuyển ra, vào ổ dịch theo quy định.
Lực lượng công an, quản lý thị trường, y tế, môi trường, doanh nghiệp phân phối, bán lẻ, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan báo chí và người dân đều có vai trò trong từng khâu của chuỗi, từ phát hiện nguy cơ, kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền đến giám sát xã hội và nâng cao nhận thức cộng đồng. Mỗi lực lượng có một vai trò riêng, một thẩm quyền riêng, nhưng cùng chung mục tiêu: phát hiện sớm nguy cơ, kiểm soát kịp thời, xử lý đúng thẩm quyền các hành vi vi phạm và bảo vệ người tiêu dùng.
Hiện nay, để chấm dứt tình trạng kinh doanh thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng manh mún, trà trộn thực phẩm không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng vào bán cho người tiêu dùng, rất cần những doanh nghiệp làm ăn chân chính, bài bản, chuyên nghiệp.
Sau đây, xin kính mời Bà Lê Thị Hường - Giám đốc Khối Quản lý Chất lượng Chuỗi siêu thị WinMart/WinMart+ Một DN bán lẻ lớn nhất cả nước với quy mô hơn 5.000 cửa hàng siêu thị.
Câu 1: Thưa bà, Trong bối cảnh thực phẩm không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn len lỏi trên thị trường, theo bà, chuỗi bán lẻ hiện đại có thể đóng vai trò gì trong việc góp phần đẩy lùi thực phẩm bẩn và là nơi mua sắm tin cậy cho người tiêu dùng?
Câu 2: Tôi được biết WinMart đã đầu tư xây dựng và đang vận hành hệ thống phòng kiểm nghiệm chất lượng an toàn thực phẩm (phòng lab). Bà có thể chia sẻ về hệ thống phòng lab này?
WinMart siết chặt “4 lớp kiểm soát” để quản lý chất lượng
Trong bối cảnh thực phẩm không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn xuất hiện trên thị trường, các hệ thống bán lẻ hiện đại đang được kỳ vọng trở thành “lá chắn” bảo vệ người tiêu dùng.
Với hơn 5.000 siêu thị và cửa hàng trên toàn quốc, WinMart xác định kiểm soát chất lượng là nhiệm vụ cốt lõi, triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm mỗi sản phẩm đến tay khách hàng đều có nguồn gốc rõ ràng và đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Cuộc chiến chống thực phẩm bẩn chỉ có thể đạt hiệu quả khi có sự chung tay của toàn bộ chuỗi cung ứng, từ cơ quan quản lý, lực lượng chức năng, nhà sản xuất, nhà cung cấp đến doanh nghiệp bán lẻ.
Trong chuỗi đó, hệ thống bán lẻ hiện đại không chỉ là đơn vị phân phối mà còn đóng vai trò là “tuyến kiểm soát chất lượng cuối cùng” trước khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Chính vì vậy, WinMart luôn xem công tác quản lý chất lượng là nền tảng trong toàn bộ hoạt động vận hành.
WinMart xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo nguyên tắc kiểm soát xuyên suốt toàn chuỗi với bốn lớp kiểm soát.
Lớp đầu tiên là kiểm soát từ nhà cung cấp. Trước khi sản phẩm được đưa vào hệ hống, doanh nghiệp tiến hành đánh giá năng lực của nhà cung cấp trên nhiều phương diện như tính pháp lý, quy trình sản xuất, hệ thống quản lý chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và việc tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm. Đối với các nhóm hàng có nguy cơ rủi ro cao như thực phẩm tươi sống hoặc thực phẩm chế biến, đội ngũ chuyên môn của WinMart trực tiếp khảo sát cơ sở sản xuất để đánh giá điều kiện vệ sinh, quy trình vận hành và năng lực kiểm soát chất lượng trước khi quyết định hợp tác.
Lớp kiểm soát thứ hai là kiểm tra sản phẩm trước khi lên kệ. Mỗi mặt hàng phải có đầy đủ hồ sơ pháp lý, hồ sơ công bố, chứng nhận chất lượng, kết quả kiểm nghiệm và các giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ theo quy định. Chỉ những sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn thực phẩm mới được phân phối trên toàn hệ thống.
Lớp kiểm soát thứ ba được thực hiện trong suốt quá trình vận hành. Từ kho trung tâm đến các điểm bán trên toàn quốc, hàng hóa được bảo quản theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về nhiệt độ, độ ẩm, vệ sinh và điều kiện lưu trữ phù hợp với từng nhóm sản phẩm. Công tác kiểm tra định kỳ tại kho và cửa hàng cũng được duy trì thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp không phù hợp trước khi ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
WinMart xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo nguyên tắc kiểm soát xuyên suốt toàn chuỗi với bốn lớp kiểm soát.
Lớp kiểm soát cuối cùng là kiểm nghiệm và giám sát sau lưu thông.
Hàng năm, WinMart xây dựng kế hoạch lấy mẫu kiểm nghiệm định kỳ dựa trên mức độ rủi ro của từng nhóm hàng. Nếu phát hiện dấu hiệu không phù hợp, doanh nghiệp sẽ ngay lập tức kiểm tra, đánh giá mức độ ảnh hưởng và chủ động thu hồi sản phẩm khi cần thiết.
Đáng chú ý, từ cuối năm 2025, WinMart đã đưa vào vận hành hệ thống phòng kiểm nghiệm ATTP tại cả ba miền Bắc, Trung và Nam nhằm tăng cường năng lực kiểm soát chất lượng và chủ động hơn trong công tác đánh giá rủi ro.
Chuỗi siêu thị WinMart/WinMart+ có hơn 5.000 cửa hàng siêu thị.
Các phòng thí nghiệm nội bộ hiện tập trung thực hiện các chỉ tiêu vi sinh phục vụ kiểm soát chất lượng thường xuyên như Salmonella, tổng số vi sinh vật hiếu khí (TPC), E. coli, Coliforms, nấm men và nấm mốc. Kết quả kiểm nghiệm không chỉ giúp theo dõi xu hướng chất lượng sản phẩm mà còn là công cụ quan trọng để đánh giá mức độ tuân thủ của nhà cung cấp, nhận diện sớm các nguy cơ tiềm ẩn trong chuỗi cung ứng.
Đối với các chỉ tiêu phân tích chuyên sâu hoặc các yêu cầu liên quan đến công bố chất lượng, đánh giá an toàn thực phẩm và tuân thủ quy định pháp luật, WinMart hợp tác với các tổ chức kiểm nghiệm quốc tế uy tín như SGS và Eurofins. Đây được xem là lớp kiểm soát độc lập nhằm xác nhận kết quả, bảo đảm độ tin cậy và tăng cường tính minh bạch trong công tác quản lý chất lượng.
Hiện nay, hệ thống kiểm soát chất lượng của WinMart thực hiện kiểm tra, giám sát khoảng 6.000 - 8.000 mẫu mỗi năm.
Kết quả kiểm nghiệm từ các đơn vị bên ngoài cũng là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá, xếp hạng và nâng cao năng lực của các nhà cung cấp. Hiện nay, hệ thống kiểm soát chất lượng của WinMart thực hiện kiểm tra, giám sát khoảng 6.000 - 8.000 mẫu mỗi năm.
Xây dựng một thị trường thực phẩm an toàn không phải là trách nhiệm của riêng bất kỳ tổ chức nào. Khi cơ quan quản lý, lực lượng chức năng, doanh nghiệp và người tiêu dùng cùng chung tay hành động, thị trường thực phẩm sẽ ngày càng minh bạch, an toàn và phát triển bền vững hơn.
Để có giải pháp căn cơ, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả về quản lý an toàn thực phẩm, Bộ Y tế được giao nhiệm vụ đầu mối trong việc xây dựng các chính sách về quản lý an toàn thực phẩm thống nhất một đầu mối, cũng như kiểm soát và ngăn chặn được tình trạng mất ATTP hiện nay.
Sau đây, xin kính mời TS. Dược sĩ Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế sẽ trình bày về những chính sách mới và chế tài quản lý an toàn thực phẩm trên toàn quốc.
Xin kính mời Tiến sĩ!
Đề xuất 5 chính sách mới quản lý ATTP đồng bộ, căn cơ và xuyên suốt
Trước thực trạng về quản lý ATTP, yêu cầu đặt ra là phải rà soát sửa đổi Luật ATTP, tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế, đơn giản hoá thủ tục hành chính, quản lý thực phẩm theo mức độ nguy cơ để tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi.
Đồng thời, phải kiện toàn bộ máy quản lý ATTP thống nhất một đầu mối. Quản lý dựa trên đánh giá nguy cơ, chuỗi sản xuất, truy xuất nguồn gốc. Mục tiêu là để tăng cường bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Để giải quyết vấn đề bảo đảm ATTP mang tính dài hạn, chiến lược và xuyên suốt, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan đã và đang phối hợp triển khai một số giải pháp mới, đồng bộ. Trong đó, Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan xây dựng Luật ATTP sửa đổi theo hướng chuyển mạnh tư duy quản lý ATTP từ "kiểm soát từng khâu riêng lẻ" sang "quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm".
Để xây dựng bộ Luật này, Bộ Y tế dự thảo 5 chính sách trụ cột về quản lý ATTP trong thời gian tới và đã được Bộ Tư pháp thông qua. Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm với nhiều văn bản chỉ đạo trong thời gian qua.
Chính sách 1: Thực hiện quản lý ATTP dựa trên kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng. Mục tiêu nhằm giám sát, đảm bảo ATTP trong toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm từ sản xuất ban đầu (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ) đến sơ chế, chế biến, kinh doanh và lưu thông trên thị trường, hướng tới phương thức kiểm soát ATTP của các nước phát triển.
Gải pháp này là quản lý ATTP từ nông trại đến bàn ăn. Nếu đầu vào tốt thì đầu ra tốt. Thực hành canh tác tốt sẽ đảm bảo an ninh lương thực, cùng với an toàn, sẽ bảo vệ người tiêu dùng.
Chính sách 2: Cải cách phương thức quản lý và cơ chế kiểm tra thực phẩm trên thị trường. Chính sách này đổi mới phương thức quản lý sản phẩm gắn theo chuỗi cung ứng với thực phẩm được giám sát, kiểm tra trong toàn bộ vòng đời, nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho người sử dụng.
Thực phẩm phân loại riêng theo chuỗi hàng hoá và cảnh báo sớm với 4 phương thức khác nhau: Đăng ký bản công bố và kiểm tra trên thị trường; công bố tiêu chuẩn áp dụng; thực phẩm có quy chuẩn kỹ thuật; không phải công bố, chỉ kiểm tra trên thị trường.
Có 7 giải pháp về hậu kiểm: Dựa trên số hoá dữ liệu; tuyên truyền để người dân, người sản xuất nhận thức; hoàn thiện, nâng cao hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ, phòng ngừa, truy xuất nguồn gốc qua hệ thống thông tin; thu hồi và xử lý thực phẩm không đảm bảo; quy định hậu kiểm thương mại điện tử và xử lý nguyên liệu bị lạm dụng.
Chính sách 3: Số hóa và xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu ATTP quốc gia liên thông, từng bước hướng tới thực hiện việc quản lý ATTP bằng dữ liệu đã được số hóa và hệ thống thông tin dữ liệu quốc gia liên thông.
Mục tiêu nhằm thúc đẩy công tác quản lý ATTP được đồng bộ, rút ngắn thời gian giải quyết, nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục sự cố, truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố về ATTP.
Đồng thời, thực hiện cảnh báo nhanh, cảnh báo sự cố quốc gia cũng như công tác kiểm tra thực phẩm trong quá trình lưu thông trên thị trường.
Bên cạnh đó là xây dựng hệ thống thông tin về ATTP thống nhất từ trung ương đến địa phương làm cơ sở quản lý ATTP trong toàn chuỗi cung ứng.
Chính sách 4: Nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn đường phố và loại hình cung cấp suất ăn tập thể.
Chính sách này tiếp tục tăng cường hậu kiểm đối với các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố, cung cấp suất ăn tập thể, tăng cường việc kiểm tra, giám sát của UBND xã đối với loại hình kinh doanh này nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các vụ ngộ độc thực phẩm gây ra bởi thức ăn đường phố, nơi cung cấp suất ăn tập thể, đảm bảo sức khỏe, an toàn cho người tiêu dùng.
Trách nhiệm và phân cấp quản lý cũng có điểm mới, trong đó, giao Chính phủ quy định trách nhiệm của UBND cấp xã: Lập danh mục theo dõi cơ sở thức ăn đường phố và loại hình cung cấp suất ăn tập thể; thanh tra, kiểm tra điều kiện ATTP; tiếp nhận phản ánh, báo cáo nhanh để phòng ngừa, ngăn chặn sự cố ngộ độc thực phẩm; tăng cường giám sát, kiểm tra địa bàn, khắc phục sự cố.
Chính sách 5: Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về ATTP theo hướng thống nhất một đầu mối từ trung ương đến địa phương.
Mục tiêu của chính sách này nhằm thống nhất một đầu mối thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP từ trung ương đến địa phương. Đồng thời, phân cấp, phân quyền tối đa nhằm nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về ATTP bảo đảm một đầu mối thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ATTP từ trung ương tới địa phương.
Chính sách này đưa ra giải pháp đảm bảo ATTP từ nông trại đến bàn ăn. Trong đó, phải đảm bảo an toàn từ khâu: Sản xuất ban đầu - sơ chế - phân phối – kinh doanh – người tiêu dùng.
Một đầu mối thống nhất từ trung ương đến địa phương đang trình Chính phủ, bao gồm: Ban Chỉ đạo liên ngành ATTP cấp trung ương (Cục ATTP Việt Nam, Bộ Y tế); Ban chỉ đạo liên ngành ATTP cấp tỉnh (32 tỉnh, TP); UBND cấp tỉnh có Sở ATTP TP Hồ Chí Minh; Ban chỉ đạo liên ngành ATTP cấp xã (Tổ công tác liên ngành về ATTP gồm: Phòng Văn hoá – xã hội; Công an, Phòng Kinh tế, Trạm Y tế).
Với các giải pháp và chính sách như trên sẽ là bước tiến mới trong việc quản lý ATTP, nhằm kiểm soát và ngăn chặn tình trạng thực phẩm “bẩn”, giảm nguy cơ ngộ độc thực phẩm, bảo vệ sức khỏe cho người dân.
Hồ sơ chính sách này đã được Bộ Tư pháp thẩm định và đồng thuận toàn bộ nội dung, hiện đang trình Chính phủ để phê duyệt.
Thực phẩm bẩn đang bào mòn sức khoẻ con người, Thượng tá, TS Lê Thị Hương Giang, Trưởng Khoa Tiết chế Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8 sẽ có tham luận về thực phẩm siêu chế biến, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh ảnh hưởng đến sức khỏe còn người và có những khuyến cáo dinh dưỡng hợp lý, khoa học, đảm bảo an toàn cho sức khỏe.
Ăn đúng là liều thuốc bổ nuôi dưỡng sự sống, ăn sai là là độc dược gây tổn hại cơ thể.
Cả cuộc đời, mỗi người tiêu thụ từ 70.000 đến 80.000 bữa ăn. Hãy thử suy ngẫm, trên đời này, có loại "thuốc" nào mà chúng ta tự nguyện nạp vào cơ thể với tần suất khổng lồ như vậy? Câu trả lời là không. Thực phẩm chính là toa thuốc được dùng nhiều nhất, đều đặn nhất trong đời mỗi con người. Ăn đúng thì đó là liều thuốc bổ nuôi dưỡng sự sống; ăn sai thì đó là liều độc dược âm thầm, tích tụ qua từng ngày để rồi bộc phát thành bệnh tật.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 600 triệu người mắc bệnh và 420.000 người tử vong liên quan đến tiêu thụ thực phẩm không an toàn.
Khi nhắc đến "thực phẩm bẩn", người ta thường lập tức nghĩ đến những hình ảnh trực quan, nguy hiểm: Những tấn lòng lợn hỏng được ngâm hóa chất, những cơ sở giết mổ chui mất vệ sinh, hay những loại rau củ đẫm thuốc bảo vệ thực vật...Đó là những mối nguy cơ hữu hình, đáng lên án và cần được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật.
Nhưng dưới góc nhìn của một nhà khoa học dinh dưỡng, tôi cho rằng, còn có một mối nguy hiểm khác, tuy vô hình nhưng sức tàn phá lại khủng khiếp hơn gấp nhiều lần. Đó là những thực phẩm an toàn về vi sinh và đáp ứng quy định pháp luật, được quảng cáo rầm rộ trên các phương tiện truyền thông, nhưng nếu tiêu thụ thường xuyên với hàm lượng đường, muối và chất béo cao thì vẫn làm gia tăng nguy cơ bệnh không lây nhiễm.
Đó là những thực phẩm siêu chế biến chứa lượng đường công nghiệp khổng lồ, lượng muối vượt ngưỡng sinh lý, chất béo chuyển hóa (trans-fat) độc hại, nhưng lại rỗng tuếch về vi chất và chất xơ.
Thực phẩm này không gây ngộ độc ngay lập tức, không khiến con người phải đi cấp cứu sau một bữa ăn. Nhưng chúng tích lũy âm thầm qua 5 năm, 10 năm, gặm nhấm hệ tim mạch, phá hủy tuyến tụy và tàn phá các mạch máu.
Thực phẩm “bẩn” không chỉ nằm trên bàn ăn mà còn len lỏi qua không gian mạng. Những thông tin dinh dưỡng thiếu kiểm chứng, quảng cáo thổi phồng và những lời khuyên phản khoa học đang khiến không ít người lựa chọn sai.
Tôi cho rằng, sự ô nhiễm thông tin dinh dưỡng cũng là một dạng "thực phẩm bẩn" nguy hại cho trí tuệ và sức khỏe của người dân, cần được kiểm soát.
Số liệu thống kê của WHO chỉ ra một thực tế đau lòng: Khoảng 80% các ca tử vong tại Việt Nam hiện nay đến từ các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, và đái tháo đường. Đáng báo động hơn, các bệnh lý này đang có xu hướng trẻ hóa một cách nhanh chóng.
Điều đáng lo là các bệnh không lây nhiễm không chỉ cướp đi sức khỏe và sinh mạng của người dân, mà còn làm giảm năng suất lao động, gia tăng chi phí y tế và tạo ra gánh nặng rất lớn cho mỗi gia đình cũng như nền kinh tế.
WHO đã nhiều lần nhấn mạnh rằng đầu tư cho phòng bệnh và dinh dưỡng là một trong những khoản đầu tư có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Vì vậy, chúng ta phải chuyển dịch tư duy phòng bệnh: phòng bệnh phải bắt đầu từ căn bếp và bữa ăn hằng ngày, chứ không phải đợi đến khi đã nằm trên giường bệnh.
WHO khẳng định khoảng 30% đến 50% số ca ung thư có thể phòng ngừa được nếu kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ, bao gồm lạm dụng rượu bia, béo phì và chế độ ăn uống không hợp lý. Dinh dưỡng không phải là chìa khóa vạn năng, nhưng chắc chắn là một phần rất quan trọng của lời giải.
Diễn đàn diễn ra vào một thời điểm rất đặc biệt - Luật Phòng bệnh chính thức có hiệu lực thi hành từ 1/7. Tôi cho rằng, giá trị lớn nhất của đạo luật này không chỉ nằm ở những quy định pháp lý, mà ở sự chuyển dịch rất rõ trong tư duy chăm sóc sức khỏe: Chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe từ sớm, từ xa và trong suốt vòng đời của mỗi người dân, thay vì chỉ tập trung điều trị khi bệnh đã xảy ra.
Từ góc nhìn của một người làm dinh dưỡng lâm sàng, tôi đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ:
Đó là, hoàn thiện và thực thi nghiêm minh pháp luật, trong đó, lực lượng Công an tăng cường phát hiện và xử lý hình sự nghiêm khắc các hành vi sản xuất thực phẩm giả, thực phẩm bẩn, gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, cần có chế tài mạnh mẽ xử phạt hành vi quảng cáo thông tin dinh dưỡng sai lệch, lừa dối người tiêu dùng trên không gian mạng.
Tạo môi trường thực phẩm lành mạnh bằng việc ban hành các quy chuẩn kiểm soát chặt chẽ các loại thực phẩm được phép tiếp cận học đường. Khuyến khích dán nhãn dinh dưỡng cảnh báo hàm lượng đường, muối ở mặt trước bao bì sản phẩm để người dân dễ dàng nhận biết và lựa chọn lành mạnh…Khuyến khích xây dựng môi trường thực phẩm lành mạnh tại trường học, bệnh viện, khu công nghiệp và cơ quan…
Đầy mạnh giáo dục dinh dưỡng học đường, từng bước tích hợp kiến thức về dinh dưỡng hợp lý và lối sống lành mạnh vào chương trình giáo dục phổ thông.
Phát huy sức mạnh của báo chí chính thống, trong đó đề nghị Báo Công an nhân dân và các cơ quan truyền thông lớn làm tốt vai trò "màng lọc thông tin", phối hợp cùng giới khoa học để lan tỏa các kiến thức dinh dưỡng đúng đắn, phản bác và dập tắt các tin đồn thất thiệt, bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất của nhân dân trước ma trận thông tin mạng xã hội.
Cuối cùng là xây dựng "tuyến phòng thủ đầu tiên" tại mỗi gia đình. Mỗi cá nhân, mỗi người cha người mẹ hãy chủ động thay đổi thói quen ăn uống của gia đình ngay từ ngày hôm nay. Hãy biến căn bếp của mình thành một pháo đài bảo vệ sức khỏe và hướng tới mục tiêu cao hơn là an ninh dinh dưỡng.
Phòng chống thực phẩm bẩn không chỉ đòi hỏi tăng cường công tác đấu tranh, phát hiện, bắt giữ, ngăn chặn, mà cần phải xây dựng hệ thống pháp luật và chế tài xử phạt đủ mạnh, đủ sức răn đe và phù hợp với diễn biến của thị trường.
Sau đây xin mời ông Trần Việt Hùng, Trưởng phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), tham luận về:
+ Kết quả kiểm tra, kiểm soát thị trường; những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý.
+ Vai trò của chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử trong kiểm soát chất lượng thực phẩm.
+ Kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Ngăn thực phẩm bẩn từ chợ truyền thống đến thương mại điện tử
ATTP không chỉ liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân mà còn tác động đến môi trường kinh doanh và trật tự xã hội. Trong bối cảnh các phương thức kinh doanh ngày càng đa dạng, đặc biệt là sự phát triển mạnh của thương mại điện tử và mạng xã hội, công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường đang đứng trước nhiều thách thức mới.
Thời gian qua, lực lượng Quản lý thị trường (QLTT) đã chủ động phối hợp với Công an, Hải quan, ngành Y tế, Nông nghiệp và Môi trường cùng chính quyền địa phương để kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn, thực phẩm giả, hàng nhập lậu và hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ.
Thực tế cho thấy, các vi phạm hiện xuất hiện ở nhiều khâu và nhiều loại hình kinh doanh, từ chợ truyền thống, cửa hàng nhỏ lẻ đến kho lạnh, cơ sở giết mổ, điểm tập kết hàng hóa và các nền tảng trực tuyến. Những mặt hàng vi phạm phổ biến gồm thực phẩm đông lạnh, nội tạng động vật, thủy hải sản, bánh kẹo, đồ uống, thực phẩm đóng gói sẵn và thực phẩm bảo vệ sức khỏe.
Nhiều vụ việc có quy mô lớn đã được phát hiện trong thời gian qua. Điển hình là các vụ thu giữ hàng chục tấn nội tạng động vật đông lạnh không rõ nguồn gốc tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số địa phương khác. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, những sản phẩm này có thể thâm nhập vào chợ dân sinh, nhà hàng, quán ăn hoặc bếp ăn tập thể, gây nguy cơ mất ATTP nghiêm trọng.
Các đối tượng vi phạm ngày càng sử dụng thủ đoạn tinh vi hơn. Hàng hóa thường được tập kết tại kho lạnh, nhà dân hoặc địa bàn giáp ranh rồi chia nhỏ để vận chuyển qua nhiều khâu trung gian. Trên môi trường số, các đối tượng lợi dụng tài khoản cá nhân, hội nhóm kín, livestream bán hàng, thanh toán điện tử và dịch vụ giao nhận để che giấu danh tính, nguồn gốc hàng hóa và quy mô kinh doanh.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, lực lượng QLTT đã kiểm tra 23.715 vụ việc, phát hiện và xử lý gần 20.000 vụ vi phạm với tổng số tiền xử lý hơn 330 tỷ đồng. Đáng chú ý, có 128 vụ việc có dấu hiệu tội phạm đã được chuyển cơ quan điều tra để xem xét xử lý theo quy định.
Riêng trong lĩnh vực ATTP, lực lượng chức năng đã kiểm tra, xử lý 2.124 vụ vi phạm, xử phạt khoảng 16,9 tỷ đồng. Các hành vi phổ biến gồm kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, vi phạm điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, không tuân thủ quy định về bảo quản, ghi nhãn, kiểm nghiệm và công bố sản phẩm.
Đối với thương mại điện tử, lực lượng QLTT đã tăng cường giám sát hoạt động kinh doanh trên các sàn giao dịch và mạng xã hội. Trong 6 tháng đầu năm, đã kiểm tra 514 vụ việc liên quan đến thương mại điện tử, xử lý 424 vụ và xử phạt gần 8 tỷ đồng.
Hiệu quả kiểm soát ATTP chỉ có thể đạt được khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng. Đáng chú ý, Bộ Công an và Bộ Công Thương đã ban hành kế hoạch phối hợp tổng rà soát, kiểm tra và xử lý các vi phạm liên quan đến an toàn thực phẩm trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, Công an và QLTT được xác định là lực lượng nòng cốt trong phát hiện, triệt phá các đường dây sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng.
Trong thời gian tới, công tác kiểm tra sẽ chuyển mạnh từ xử lý các vụ việc đơn lẻ sang đấu tranh theo chuỗi, theo đường dây và hệ sinh thái vi phạm, bao gồm sản xuất, vận chuyển, quảng cáo và tiêu thụ. Các địa bàn trọng điểm được tập trung kiểm soát gồm chợ đầu mối, kho lạnh, cơ sở logistics, tuyến biên giới và các nền tảng thương mại điện tử.
Chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc được xác định là giải pháp quan trọng. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, hàng hóa, vi phạm và kết nối thông tin từ sàn thương mại điện tử, đơn vị vận chuyển, trung gian thanh toán sẽ giúp lực lượng chức năng phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm và nâng cao hiệu quả quản lý.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra, kiểm soát vẫn gặp nhiều khó khăn. Hoạt động kinh doanh trực tuyến phát triển nhanh khiến việc xác định chủ thể vi phạm, kho hàng và dòng tiền trở nên phức tạp. Trong khi đó, việc kiểm nghiệm, giám định chất lượng thực phẩm còn mất nhiều thời gian và chi phí. Công tác bảo quản, tiêu hủy tang vật là thực phẩm đông lạnh hoặc hàng dễ hư hỏng cũng phát sinh nhiều khó khăn về kinh phí và kỹ thuật.
Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về ATTP, đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh trên môi trường số; tăng cường nguồn lực cho công tác kiểm nghiệm, lấy mẫu và xử lý tang vật; xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành; đồng thời phát huy vai trò của báo chí, doanh nghiệp và người tiêu dùng trong giám sát, phát hiện, tố giác các hành vi vi phạm.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BCT ngày 11/6/2026 quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Theo đó, thương nhân có thể triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc thông qua Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương hoặc hệ thống truy xuất nguồn gốc nội bộ có kết nối với hệ thống VeriGoods. Quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch của hàng hóa lưu thông, hỗ trợ cơ quan quản lý xác định nguồn gốc, lô hàng, đường đi của sản phẩm và trách nhiệm của từng khâu trong chuỗi cung ứng.
Đối với mặt hàng thực phẩm, việc áp dụng truy xuất nguồn gốc cần căn cứ phạm vi quản lý, danh mục hàng hóa rủi ro cao và các quy định chuyên ngành về an toàn thực phẩm. Trong hoạt động thực thi, lực lượng Quản lý thị trường cần kiểm tra truy xuất nguồn gốc theo hướng thực chất, không chỉ dừng ở việc quét mã QR hoặc kiểm tra tem truy xuất, mà phải đối chiếu dữ liệu truy xuất với nhãn hàng hóa, hóa đơn, chứng từ, hồ sơ công bố, ngày sản xuất, hạn sử dụng, lô sản xuất, thông tin nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối và điều kiện bảo quản.
Người tiêu dùng cần nâng cao kỹ năng về ATTP
Thực phẩm bẩn, thực phẩm giả và thực phẩm không rõ nguồn gốc đang trở thành nỗi lo thường trực của người tiêu dùng. Nguy cơ này tồn tại ở cả hàng hóa sản xuất trong nước lẫn nhập khẩu, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế và niềm tin của xã hội.
Thực tế cho thấy, một lượng lớn thực phẩm hiện nay vẫn được tiêu thụ qua các chợ truyền thống, nơi việc kiểm soát nguồn gốc và chất lượng còn nhiều hạn chế. Trong khi đó, hệ thống siêu thị và các cửa hàng thực phẩm đạt chuẩn thường có quy trình quản lý chất lượng, bảo quản và truy xuất nguồn gốc chặt chẽ hơn. Điều này khiến người tiêu dùng khó tránh khỏi tâm lý lo lắng khi lựa chọn thực phẩm cho bữa ăn hằng ngày.
Tình trạng sản xuất và kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ ý thức tuân thủ của một bộ phận người sản xuất, kinh doanh đến những bất cập trong công tác quản lý, giám sát. Khi các quy định về ATTP chưa được thực thi nghiêm túc và công tác bảo vệ người tiêu dùng chưa được quan tâm đúng mức, người dân rất khó tự bảo vệ mình trước các nguy cơ từ thực phẩm mất an toàn.
Tác động của thực phẩm bẩn không chỉ dừng lại ở các vụ ngộ độc cấp tính mà còn kéo theo nhiều hệ lụy lâu dài. Các tác nhân như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, hóa chất độc hại, kim loại nặng hay độc tố sinh học có thể gây bệnh mãn tính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, chi phí khám chữa bệnh, suy giảm năng suất lao động và những tổn thất về kinh tế cũng tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Đáng lo ngại hơn, các vụ việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng bị cơ quan chức năng phát hiện thời gian qua đã làm xói mòn niềm tin của người tiêu dùng. Những sai phạm liên quan đến một số cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vực ATTP càng khiến dư luận bức xúc, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải siết chặt kỷ cương và nâng cao hiệu quả quản lý.
Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, người tiêu dùng có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị các tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Nếu các cơ quan quản lý, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức bảo vệ người tiêu dùng đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rõ quyền của mình, đồng thời khuyến khích phản ánh, tố giác các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm, sẽ tạo nên mạng lưới giám sát rộng khắp. Khi đó, hàng triệu người tiêu dùng sẽ trở thành những “tai mắt” hỗ trợ cơ quan chức năng phát hiện và ngăn chặn các vi phạm.
Tuy nhiên, việc nhận diện thực phẩm an toàn hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Không ít sản phẩm lưu thông trên thị trường chưa thực hiện đầy đủ quy định về ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc hoặc chỉ thực hiện mang tính hình thức. Điều này khiến người tiêu dùng khó phân biệt giữa sản phẩm an toàn với hàng hóa không rõ xuất xứ.
Để xây dựng văn hóa tiêu dùng an toàn, cần tăng cường tuyên truyền, đào tạo kiến thức về ATTP, kỹ năng lựa chọn thực phẩm và tiêu dùng xanh cho người dân. Đồng thời, cần lồng ghép các tiêu chí về tiêu dùng an toàn, bền vững vào các phong trào xây dựng cộng đồng văn hóa ở địa phương.
Về lâu dài, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về thực phẩm theo hướng hài hòa với thông lệ quốc tế; thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương; tăng cường hậu kiểm đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực và bố trí nguồn lực phù hợp cho các tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng để thực hiện hiệu quả công tác giám sát, tuyên truyền và hỗ trợ người dân.
Bảo đảm ATTP không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý hay doanh nghiệp, mà cần sự chung tay của toàn xã hội. Khi người tiêu dùng được trang bị kiến thức và phát huy vai trò giám sát, sẽ góp phần tạo dựng thị trường thực phẩm minh bạch, an toàn và bền vững hơn.
Theo bà Trần Thị Dung, thực phẩm bẩn, thực phẩm giả và không rõ nguồn gốc vẫn là mối đe dọa hiện hữu đối với sức khỏe cộng đồng. Để ngăn chặn tình trạng này, cần hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao trách nhiệm doanh nghiệp và phát huy vai trò giám sát của hàng triệu người tiêu dùng trên cả nước.
Thưa quý vị đại biểu, đến từ cơ sở y tế, Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai là tuyến cuối trong cấp cứu, điều trị ngộ độc thực phẩm, TS.BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm chống độc tham luận về thực trạng ngộ độc thực phẩm từ các trường hợp vào cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai, nguyên nhân và giải pháp để ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm đang diễn biến phức tạp hiện nay.
Xin kính mời Tiến sĩ!
Ngộ độc thực phẩm âm thầm gây ra các bệnh mãn tính, rất khó quy kết nguyên nhân.
Có 3 nhóm nguyên nhân chính gây ngộ độc thực phẩm:
Nhóm vi sinh vật (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng): Thường gặp ở các nước nóng, chủ yếu do mất vệ sinh (đường phân - miệng) như vi khuẩn E. coli, Salmonella. Nhóm này tương đối dễ chẩn đoán và giải quyết.
Nhóm do độc tố tự nhiên: Có sẵn trong thực vật hoặc động vật độc. Nguyên nhân do người dân thiếu hiểu biết hoặc thích ăn đồ "độc, lạ".
Nhóm hóa chất: Đây là thách thức khó khăn nhất. Trước đây hóa chất chủ yếu do sử dụng thuốc trừ sâu cẩu thả, nhưng nay chuyển sang xu hướng vì lợi nhuận thương mại, sản xuất kinh doanh.
Những nguyên nhân này dẫn đến khó khăn trong kiểm nghiệm và chẩn đoán.
Việc kiểm soát hóa chất đang gặp bế tắc vì đây là độc tính mãn tính. Các chất phụ gia, hương liệu (ví dụ 20.000 loại hóa chất trong thuốc lá điện tử có thể đưa vào thực phẩm) chưa đủ thời gian để đánh giá tác hại lâu dài.
Năng lực kiểm nghiệm hiện nay máy móc dù đắt tiền (hàng chục tỷ đồng) cũng không chạy theo kịp tốc độ ra đời của các chất mới. Việc xây dựng quy trình xét nghiệm mất hàng tháng, trong khi chất độc thay đổi liên tục như ma túy.
Ngộ độc thực phẩm hiện nay không làm người bệnh “lăn đùng ra ngay” mà gây ra các bệnh mãn tính, kín đáo, rất khó quy kết nguyên nhân.
Trong khi đó, truy xuất nguồn gốc còn gặp thách thức khi nhiều thực phẩm trên thị trường Việt Nam hiện nay đều không rõ nguồn gốc xuất xứ. Tôi đã trực tiếp đi truy xuất tại chợ Long Biên, chợ Thường Tín nhưng không thể tìm ra hộ sản xuất hay hồ sơ theo dõi sức khỏe vật nuôi.
Ngay cả tại bệnh viện lớn như Bạch Mai, việc kiểm tra cũng rất tốn kém và khó khăn. Kết quả xét nghiệm một số mẫu sữa cho thấy chất lượng không đạt như quảng cáo hoặc nhà sản xuất dùng "chiêu thức" lách luật về tiêu chuẩn công bố trên nhãn.
Hiện nay, còn những bất cập trong quản lý như chế tài xử lý còn thấp. Cần xử lý hình sự những vụ việc gây ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, gây chết người. Đề xuất phải xử phạt thật nặng để làm gương, giống như cách xử lý vi phạm nồng độ cồn.
Trách nhiệm quản lý về ATTP hiện còn chồng chéo. Vì vậy, để nâng cao vai trò quản lý cũng như trách nhiệm đảm bảo ATTP cho người dân, cơ quan chức năng chịu trách nhiệm hoặc được phân cấp quản lý ATTP cần phân vai rõ ràng bằng chỉ số KPI.
Khi có vụ việc, tùy quy mô mà UBND tỉnh hoặc liên Bộ (Công an, Y tế, Công thương, Nông nghiệp và Môi trường) phải cùng vào cuộc giải quyết và trả lời rõ trách nhiệm của mình sau đó.
Khuyến khích các mô hình sản xuất thực phẩm sạch, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng như mô hình của Masan.
Đến tham dự diễn đàn hôm nay còn có Luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, thành viên Hội đồng trọng tài quốc tế Việt Nam. Xin mời luật sư phát biểu suy nghĩ của ông khi tham dự diễn đàn. Theo ông, đâu sẽ là những giải pháp đột phá để truy quét nạn thực phẩm bẩn?
Cần tổ chức một cơ quan chuyên trách làm đầu mối quản lý ATTP
ATTP là một trong những vấn đề quan trọng nhất từ trước đến nay, được đề cập đến trong 2.800 văn bản đang có hiệu lực của các cơ quan trung ương (chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật) cho đến ngày hôm nay.
Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2018 và 2025 gồm 72 điều, cùng với hàng chục nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đã quy định rất cụ thể, chi tiết về ATTP, trong đó có quy định bảo đảm ATTP là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm…
Với một khối lượng văn bản lớn như thế, tất cả mọi lĩnh vực, từ những yêu cầu về ATTP, đến những quy định cấm, quy định về xử phạt… đều đã có các quy định cụ thể.
Riêng về chế tài, Bộ Luật Hình sự quy định về xử phạt hình sự, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm liên quan đến việc sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm thì có thể bị xử phạt tù từ 2 đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 – 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Pháp nhân thương mại phạm tội thì có thể bị bị phạt tiền từ 1 – 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm hoặc vĩnh viễn, ngoài ra còn có thể bị phạt tiền từ 100 – 300 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 năm đến 3 năm.
Mặc dù, các quy định về pháp lý và chế tài đều có, nhưng những vi phạm về ATTP vẫn diễn ra phức tạp, vì vậy, Công ty Luật ANVI kiến nghị một số nội dung:
Thứ nhất, cần tổ chức một cơ quan chuyên trách làm đầu mối quản lý ATTP. Hiện nay, Luật Đầu tư quy định “Kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Y tế”.
Thứ 2, tập trung kiểm soát theo chuỗi, truy xuất nguồn gốc và quản lý theo tiêu chuẩn hoá. Từ khâu trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt qau sản xuất, chế biến, bảo quản, cho đến vận chuyển lưu thông, phân phối.
Thứ 3, cần xem xét sửa đổi hợp lý và nghiêm khắc hơn các chế tài hình sự đối với vi phạm pháp luật về ATTP. Mức phạt tiền hình sự hiện nay tối đa 18 tỷ đối với pháp nhân phạm tội là ít nghiêm khắc hơn so với mức phạt hành chính có thể gấp đến 7 lần giá trị vi phạm xử phạt hành chính.
Thứ 4, tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ATTP. Cần xây dựng bộ Cẩm nang an toàn thực phẩm, trong đó tóm tắt các quy định liên quan của pháp luật và chỉ dẫn việc tuân thủ pháp luật và chia sẻ kinh nghiệm về an toàn thực phẩm cho người sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng cũng như các cơ quan chức năng.
Thứ 5, xây dựng App và trang web chuyên về ATTP để cung cấp thông tin và phản ánh tình trạng vi phạm.
Và một số biện pháp khác, như yêu cầu niêm yết Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP tại các cửa hàng buôn bán thực phẩm.