Cách đây ít lâu, PV Chuyên đề ANTG cũng đã có một chuyến "ngậm ngải tìm trầm", và quả thật chuyện tìm thấy trầm là chuyện mò kim đáy bể...
1. Chúng tôi khởi hành từ lúc trời còn rất sớm. 6 người gồm tôi, anh Dũng, anh Lâm, anh Thắng, anh Được và anh Thuận ngồi bệt trên sàn xe "be" - là loại xe chuyên dùng để kéo gỗ - cạnh những mảnh vỏ cây nham nhở, lưng dựa vào những chiếc balô căng phồng gạo, mắm, mền võng.
Theo lời anh Dũng trưởng nhóm đi "điệu" (đi tìm trầm), thì tài xế sẽ cho chúng tôi quá giang đến một khu rừng nằm về phía tây huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa rồi từ đó, chúng tôi đi bộ, len lỏi qua những triền núi đá, giáp ranh giữa tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Đắk Lắk, nơi có cây "dó" - là loại cây cho ra trầm hương hoặc kỳ nam, vẫn thường mọc.
Mục đích rõ ràng như thế mà vẫn có nhiều thứ để kiêng kị. Đi tìm trầm thì không bao giờ được nói là "đi tìm trầm", mà kêu bằng đi “điệu”. 3 đêm trước ngày lên đường, anh nào có vợ thì cứ gọi là phải ngủ riêng cho tinh thần, thể xác được... tinh khiết! Chưa hết, lại còn hương hoa cúng bái cầu may mắn, xì xụp kính thưa tất cả các loại "thần rừng" đừng cho gặp tai ương.
Vào tới cửa rừng, nếu bất chợt nghe con kỳ đà kêu là quay về ngay vì "kỳ đà cản mũi". Còn ngậm "ngải" ư? Đó là truyền thuyết hồi xưa, ngậm củ "ngải" để nhớ đường về vì có người mải mê tìm kiếm cây dó đến nỗi lạc lối. Lương thực hết, họ ăn rau ăn củ, nhai ốc nuốt cá, riết rồi hóa thành... người rừng, lấy lá cây, vỏ cây che thân, quên cả tiếng nói.
Khi tìm được đường ra, gặp lại cha mẹ, vợ con, cũng chẳng biết! Tôi hỏi: "Bây giờ đi "điệu" còn ngậm ngải không?". Anh Dũng đáp: "Không. Tui chưa hề nhìn thấy củ ngải bao giờ".
Xe lao nhanh trên Quốc lộ 1A phẳng lì. Nhiều đoạn, một bên là đồng ruộng, một bên là biển, gió thổi lành lạnh. Tuổi đời của chiếc xe ấy xem chừng xấp xỉ tuổi tôi nên khi nổ máy, nó rống lên như con bò già hết hơi, khói đen phun mù mịt. Anh Minh, tài xế, dân Ngã ba Thành, nhìn tôi một hồi rồi cười: "Mới đi lần đầu hả?". Chưa kịp trả lời, anh nói tiếp: "Nhìn ông mang đôi giày là biết ngay. Dân đi "điệu" đâu ai xài giày bata. Lội hai bữa là nát bét".
Rời quốc lộ, xe rẽ sang bên trái. Chạy thêm mươi cây số nữa là đến đường đất với những ổ gà, ổ trâu trồi lên thụt xuống. Ngoài đồ nghề là một bộ "dũm" - có hình dạng như chiếc máng xối, một đầu bén ngót - để móc đất, một con rựa, hoặc rìu dài khoảng 1,2m - tính cả cán để chặt cây, trong balô của dân đi "điệu" - nếu chuyến đi kéo dài 1 tuần - thì có chừng 5kg gạo, mấy cái hũ nhỏ bằng nhựa, hũ đựng thịt băm nát rang chung với muối sả, hũ đựng đường, trà, cà phê, hũ đựng những thứ linh tinh như thuốc sốt rét, tiêu chảy, thuốc gia truyền trị rắn cắn... Đồ ngủ thì ai cũng có một chiếc võng hai lớp may bằng loại vải dù rất dày mà đến tối, tôi mới biết lớp thứ hai của võng khi lật úp lên trên, nó vừa là chăn, vừa là mùng, chống muỗi.
2. Khoảng 9 giờ, xe dừng lại. Tôi theo nhóm đi "điệu" nhảy xuống, balô lên vai, bắt đầu cuốc bộ. Vì chỉ "đi cho biết" nên hành lý của tôi tương đối nhẹ nhàng. Đường đi quanh co uốn lượn, lúc lên lúc xuống giữa những đám rừng phần lớn toàn những loại cây tạp và những bụi cỏ tranh, cỏ lau cao ngang thân người.
Theo lời anh Dũng, thì "đường" do những người làm rẫy, lấy củi, khai thác gỗ lậu tạo thành nên bước chưa thấy mệt lắm. Được chừng 1 tiếng, trước mắt tôi xuất hiện một khoảnh đất bằng phẳng, rộng cỡ trăm mét vuông, trên phủ những tấm vải bạt lớn có lẽ để ngăn không cho lá cây rụng xuống nhưng qua thời gian, nó đã te tua từng mảng. Cạnh rìa mảnh đất, là một căn nhà không vách, mái lợp tranh với một cái sạp lớn, trên bày la liệt mỳ gói, gạo, mắm muối, dao rựa. Cạnh đó là hàng chục chiếc xe đạp, xe gắn máy.
Hỏi ra mới biết đây là trạm dừng chân để bổ sung lương thực cho dân đi "điệu", dân làm gỗ lậu. Họ gửi xe ở đó, vào rừng. Đến ngày về, họ lấy xe ra thị trấn như người dân bình thường nhằm qua mặt lực lượng kiểm lâm.
Nghỉ ngơi vài phút, anh Dũng ra hiệu cho chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lội qua một con suối nước lạnh buốt, đá cục, đá hòn lổn nhổn, anh Dũng đột ngột rẽ ngang. Bây giờ, đúng là cắt rừng mà đi, chân đạp lên các loại cỏ vô danh, lên những đoạn cây mục, những hòn đá xù xì, lởm chởm. Anh Được - đi sau lưng tôi, dặn: "Mùa này là mùa mưa nên có vắt. Lát nữa qua đoạn rừng tre, vắt nhiều lắm. Nếu bị nó bám thì đừng gỡ vì dừng lại gỡ, nó sẽ bu lại, bám nhiều hơn. Cứ việc đi, tới chỗ nghỉ rồi tính".
Chỗ nghỉ cách cửa rừng khoảng 7 cây số, cạnh một con suối mà dấu tích của trận lũ năm ngoái còn in dấu bằng hai dải đất dọc theo hai bên bờ suối, trên đó đầy những đá, cành cây khô, gỗ mục. Mọi người hạ balô xuống, nổi lửa nấu cơm. Anh Dũng - trưởng nhóm lấy ra một túi nylon nhỏ rồi lần lượt, ai cũng đổ vào đó nửa lon gạo. Xong, anh gấp đôi miệng túi lại, buộc chặt rồi treo lên một nhánh cây nằm ở một góc khuất. Trước lúc treo, tôi thấy anh móc trong balô ra hai cái lọ nhỏ, cho ngón tay vào rồi bôi cái gì đó lên đoạn dây.
Thấy tôi ngạc nhiên, anh giải thích: "Gạo này để dự trữ nếu lúc về hết lương thực, hoặc nếu gặp lũ phải nằm lại nhiều ngày thì vẫn có cái ăn, không chết đói". Sau này tôi mới biết suốt quãng đường "ngậm ngải tìm trầm", mỗi nhóm đi "điệu" thường có từ 2 hoặc 3 điểm cất giấu gạo, muối - và thường thì không nhóm nào xâm phạm đến tài sản của nhóm nào ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng.
Anh Lâm, kể: "Năm ngoái, tui với thằng Thành gặp cơn lũ lớn, bít hết đường ra. Hai thằng nằm chịu trận suốt 4 ngày. Lúc nước rút thì hết gạo. Lội từ sáng tới chiều, may sao tìm được "kho" - không biết của ai. Tụi tui lấy gạo nấu cơm rồi dùng than viết lên vỏ bao thuốc lá, nhét lại vô túi gạo: "Lâm, Thành mượn gạo". Chuyến sau, tui vô trả đủ, không thiếu một hột.
Tôi hỏi: "Hồi nãy thấy anh Dũng bôi cái gì đó lên đoạn dây buộc túi gạo?". Lâm cười: "Kho gạo ngán nhất là chuột, sóc và kiến. Đoạn đầu ổng bôi mỡ trăn vì chuột, sóc sợ trăn. Còn đoạn sau ổng bôi thuốc DEP chữa ghẻ. Kiến ăn mỡ trăn nhưng đến chỗ có thuốc DEP thì tránh".--PageBreak--
3. Theo khảo sát của những nhà nghiên cứu cây dó ở Việt Nam, thì loại cây này mọc tự nhiên ở các tỉnh chạy dọc theo dãy Trường Sơn, từ Thanh Hóa kéo dài đến Khánh Hòa - trong đó Khánh Hòa được coi là "rốn trầm". Ngoài ra, nó còn xuất hiện ở vùng bảy núi (Thất Sơn), An Giang, đảo Phú Quốc và 4 tỉnh Tây Nguyên. Cũng tại Việt Nam, người ta đã phát hiện ra 7 loại dó, (còn trên thế giới là 25 loại), trong đó có 3 loại cho ra trầm - hoặc kỳ nam là cây dó đen, dó trắng, dó hương. Các loại khác như dó giây, dó me, dó liệt, dó cát..., thì thường không có trầm.
Anh Dũng nói: "Mấy chục năm nay, người ta khai thác gần như sạch rồi nên bây giờ, tìm được cây dó có trầm hiếm lắm. Nếu có, thì chỉ còn vùng rừng phía tây Trường Sơn, trên đất Lào, là nơi cả trăm năm nay không có dấu chân người". Thế nhưng, chuyện về những người may mắn tìm được trầm - hoặc kỳ nam, bán cả chục tỉ đồng thỉnh thoảng vẫn rộn lên ở chỗ này, chỗ kia đã như một liều thuốc kích thích dân đi "điệu".
Nghe kể rằng ở Vạn Ninh, có một người làm nghề đánh bẫy thú rừng, một hôm trời mưa, khi đi ngang một khúc quanh trong rừng, anh ta trợt chân ngã xuống, tay chống vào một gốc cây mục. Tới hồi rút tay lên, anh ta thấy bốc mùi thơm ngát. Biết là trầm, anh ta vội vã đào bới và kết quả thu được hơn 2kg kỳ nam. Anh Thắng, nói: "Cái đó là "Cậu" cho vì ngày nào cũng có cả vài chục người qua lại mà có ai thấy đâu".
Cũng ở Hòn Hèo, huyện Vạn Ninh, khoảng những năm 40 thế kỷ trước, một ông tên Nghĩa khi đi rừng, đã phát hiện ra một cây dó khá lớn. Dùng dao băm vào thân cây vài nhát để tạo vết thương, ông Nghĩa về dặn con cái là chừng 10 hoặc 15 năm sau quay lại tìm cây đó lấy trầm. Tuy nhiên vì chiến tranh, chuyện "cây trầm ông Nghĩa" đi vào quên lãng. Mãi đến năm 2004, một người đi "điệu" bất ngờ tìm thấy, lấy được 2,4kg kỳ nam. Chẳng rõ anh ta bán được bao nhiêu nhưng theo lời anh Dũng, thì: "Anh ta bỏ ra 1 tỉ đồng để làm từ thiện".
Cách đây chừng 1 năm, một nhóm đi "điệu" ở Quảng Nam đã tìm được gần 100kg kỳ nam và số tiền bán được nhiều đến nỗi cả nhóm phải bỏ trốn vì... sợ! Gần đây nhất, một nhóm đi "điệu" ở Vạn Ninh cũng trúng 26kg kỳ nam, mỗi ký bán 1,4 tỉ đồng.
Cơm xong, chúng tôi lại lên đường. Trời không nắng, chỉ âm u một màu xám xịt. Ấy vậy mà lưng áo tôi ướt đẫm mồ hôi. Chiếc balô nặng khoảng 4kg giờ như một tảng đá trong lúc nhóm đi "điệu" vẫn sải chân thoăn thoắt. Thú thật là có lúc, tôi đã định mở miệng "xin các anh cho em về" nhưng nghĩ đến bài phóng sự "chay", không thông tin, không hình ảnh nên tôi đành nghiến răng mà bước.
Trong tự nhiên, cây dó tạo ra trầm bởi ba nguyên nhân. Một là nguyên nhân cơ học: Cây bị sét đánh, bị trúng mảnh bom, mảnh đạn hoặc do con người tác động như lấy dao, lấy búa chặt vào thì theo bản năng tự vệ, nó sẽ tiết ra một chất để làm lành vết thương và chất đó lâu ngày hình thành nên trầm. Nguyên nhân thứ hai, do côn trùng: Cây bị mối ăn, bị kiến đục cũng tiết ra trầm và nguyên nhân thứ ba là do vi khuẩn, hoặc nấm: Một cây dó bị vi khuẩn hoặc nấm sống ký sinh khiến cây bị tổn thương. Nếu như chất tiết ra ngăn cản được sự phát triển của vi khuẩn, của nấm thì lâu dài, nó thành trầm. Nhưng nếu chất tiết ra không ngăn được vi khuẩn, nấm, thì sau hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, toàn bộ - hoặc một phần thân cây, rễ cây dó biến thành một khối hơi mềm, sờ vào thấy dính tay, mùi thơm ngát. Đó chính là kỳ nam.
Anh Dũng, nói: "Kỳ nam chia làm 4 loại, quý nhất là kỳ bạch, có màu xám nhạt, tiếp đến là kỳ thanh, màu đen nhưng có ánh xanh lục, rồi đến kỳ huỳnh màu vàng sẫm như hổ phách. Cuối cùng là kỳ đen. Trầm cũng có 6 loại, tốt nhất là loại 1 mà theo thời giá hiện nay, một ký dao động từ khoảng 120 đến 200 triệu đồng nhưng không phải bất kỳ cây dó nào cũng cho ra kỳ nam, trầm hương. Bản thân tôi đã gặp cả ngàn cây dó, nhưng chỉ 1, 2 cây là có trầm".
Đã vậy, trầm lại còn được chia thành trầm mắt tử, trầm mắt đào, trầm bông, trầm da bao, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm bọ sánh, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn..., mỗi thứ một giá tiền khác nhau. Còn kỳ nam hả? Vô giá. Anh Dũng tiếp: "Cái tay tìm được 2,5kg kỳ nam ở "cây trầm ông Nghĩa", thương gia Nhật Bản, Đài Loan đến trả giá 1,5 tỉ đồng một kilôgam mà họ có bán đâu".
Vậy trầm, kỳ nam có tác dụng gì mà lại quý đến thế? Dân "tàu kê" - là chữ dùng để chỉ những người mua bán trầm, thử bằng hai cách. Đối với trầm, họ thả vào nước. Trầm loại 1 thường chìm thẳng xuống đáy vì toàn bộ khối trầm không hề còn chất gỗ. Loại 2 chìm gần đáy rồi cứ theo thứ tự mà đi lên. Đến loại 6, thả vào nước nó nằm lơ lửng ngay dưới mặt nước. Đưa tôi xem một mẩu trầm loại 6, anh Lâm, giải thích: "Anh thấy không, tất cả chỉ là gỗ, còn những sợi màu nâu đen nằm giữa những sớ gỗ là trầm nên giá nó rẻ, vài trăm nghìn một ký".
Cách thử thứ hai là đốt lên, ngửi khói nhưng cách này chỉ những "tàu kê" thuộc hàng lão luyện mới phân biệt được lượng trầm trong gỗ nhiều hay ít. Theo Đông y, trầm có tính bổ dương, ngăn tiêu hao nguyên khí, trợ tim, trị hen suyễn và đặc biệt rất hiệu quả trong "cái khoản kia" - đến nỗi dân đi "điệu" nói "Viagra cũng phải kêu bằng cụ!". Với Tây y, trầm là thành phần chính trong một loại biệt dược dùng điều trị chứng ung thư bàng quang. Ngoài ra, nó còn được dùng để sản xuất những loại mỹ phẩm siêu cao cấp, tạo mùi cho rượu hoặc làm những đồ thủ công mỹ nghệ đắt tiền.
Ở Anh, Hãng Bristol sản xuất ra loại giấy viết thư có mùi trầm, để hàng chục năm vẫn thơm phưng phức mà giá mỗi tờ giấy loại này không đắt lắm, chỉ... khoảng 1 triệu đồng tiền Việt thôi! Xưa nay, tôi vẫn thường hay tắm bằng xà bông trầm, loại 15 nghìn một cục, và những ngày giỗ quảy, lễ tết, cũng vẫn thường thắp lên bàn thờ bố tôi mấy nén nhang trầm hương. Cứ ngỡ đó là... đồ thật, ai dè qua chuyến đi "ngậm ngải tìm trầm" này, mới biết tất cả chỉ là "hương trầm", được điều chế bằng phương pháp hóa học vì nếu là nhang trầm - dù chỉ được làm bằng trầm loại 6, thì một bó - gồm 50 thẻ cũng có giá 200 nghìn đồng trong lúc bó nhang tôi mua ở chợ Bình Tây, quận 6, TP HCM, trên nhãn in đậm hàng chữ "nhang trầm nguyên chất", chỉ là 25 nghìn đồng.
(Còn nữa)