Về án hình sự thì đã được minh oan, nhận tiền bồi thường, xin lỗi tại địa phương và trên báo chí trong năm 2004. Ông trở thành nhân vật nổi tiếng bởi là người đầu tiên của Hà Nội được minh oan theo Nghị quyết 388 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bồi thường cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Nhưng còn dân sự, nỗi oan chất chồng theo tháng năm mà không biết khi nào mới vào hồi kết.
1. Ông là Hoàng Minh Tiến (tức Huỳnh Đệ) người xã Hòa Bình, huyện Thường Tín, Hà Nội, một miền quê yên bình với nhiều nghề truyền thống như thuộc da, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ từ sừng trâu. Làm nghề này khó giàu nhưng đủ ăn. Những phẩm chất tốt đẹp của người thợ thủ công ngấm vào máu ông từ nhỏ nên khi trưởng thành, ông vẫn là người năng động, dám nghĩ dám làm. Người ta bảo “sinh nghệ tử nghệ” quả không sai. Những tưởng cái nghề mang lại bát cơm cho gia đình và một chút danh vọng của người thợ có bàn tay vàng, ai ngờ, cũng chính nghề này kéo ông vào tấn bi kịch lớn nhất của cuộc đời.
Đó là vào những năm 90 của thế kỷ trước. Khi đó, ông là Cửa hàng trưởng Cửa hàng Xuất nhập khẩu Đồng Tiến. Vốn tháo vát cộng với máu liều lĩnh, ông sẵn sàng thực hiện những thương vụ mang tính rủi ro, nhưng bù lại, nếu thành công thì lợi nhuận sẽ rất lớn. Nhiều thương vụ đã đến với ông trong hoàn cảnh đó, thành công nhiều, thất bại cũng không ít, bạn bè trong nghề luôn đánh giá cao tài tổ chức và quản lý của ông.
Trong số những thương vụ đó, có 2 thương vụ mà đến giờ, tất cả với ông vẫn như cơn ác mộng: Thương vụ thứ nhất được Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội ủy quyền góp 200 triệu đồng để mua và tái chế xuất khẩu da trâu, bò. Còn thương vụ thứ hai, ông đại diện cho Liên hiệp Khoa học sản xuất Việt
Năm 1992, ông bị bắt rồi bị khởi tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Cùng với đó, Lệnh kê biên nhà số 6, ngõ 295 Bạch Mai cùng rất nhiều tài sản có giá trị khác được thực hiện. Qua 3 phiên tòa xét xử, phải đến năm 1996, TANDTC mới ra quyết định: "Hoàng Minh Tiến không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN. Anh Tiến được hưởng mọi quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật...". Vậy là một phần sự thật được đưa ra ánh sáng, còn về ngôi nhà bị kê biên lẽ ra ông được nhận lại thì vẫn nằm trong bóng tối dù ông đã nhiều lần gửi đơn tới các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Thành người lương thiện, nhưng tất cả phải bắt đầu với hai bàn tay trắng. Ống nhớ lại: “Lúc đó, tôi như bị đẩy xuống đáy, mệt mỏi, chán chường, cay đắng nhưng tôi lại phải trấn an mình rằng, không được quị ngã mà phải sống tiếp, vì những người thân của mình. Tôi lao vào làm ngày, làm đêm với việc sản xuất ra những chiếc bàn chải cọ rửa nhà vệ sinh, những chiếc ghế nằm cho các cửa hàng gội đầu… Vì là sản phẩm trong nước giá rẻ, lại đảm bảo chất lượng nên được người tiêu dùng ưa chuộng. Tôi đã đứng lên từ những sản phẩm nhỏ bé đó bởi tôi biết, tự mình phải cứu mình chứ không thể trông chờ vào lòng thương hại của người khác”.
Một ngày nắng lửa cuối tháng tư, tôi tìm về nhà ông. Hàng ngày, ông vẫn cùng vợ đánh bóng đũa hay làm lược sừng truyền thống giúp chú em ruột nhà sát bên. Thi thoảng ông đến các cơ sở làm hàng thủ công trong làng để tư vấn cho các bạn trẻ kỹ thuật chuyên môn hay mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Hỏi ông đã thật sự thanh thản chưa, ông lắc đầu cười: “Chú xem, ngôi nhà mua bằng mồ hôi nước mắt của vợ chồng tôi bị kê biên bao nhiêu năm rồi, lẽ nào đến nay bị mất trắng? Rồi cả những người từng xử 13 bản án dân sự về vụ việc này nữa, chẳng lẽ họ vô can? Mà nội dung những bản án cũng thật lạ. Án này tuyên trả tôi nhà, án kia lại bác. Tôi theo kiện đến cùng dù biết rằng hy vọng là vô cùng mong manh, song điều quan trọng hơn cả là sự thật phải sáng tỏ. Chính vì thế mà quá khứ u ám dù cố quên nhưng vẫn quẫy đạp, khiến tôi cứ phải nghĩ về nó như một món nợ phải trả ở kiếp này”.
2. Sẽ là vô cùng thiếu sót nếu không nhắc tới bà Phạm Thị Lâm, người vợ tảo tần cùng ông vượt qua bao ghềnh thác của cuộc đời. Những ngày ông bị bắt, bà hiểu rằng nước mắt không thể cứu được gia đình nên một mặt gõ cửa các nơi nhờ cậy, mặt khác chèo chống con thuyền gia đình. 3 cô con gái khi ấy trong độ tuổi vị thành niên phải bỏ học giữa chừng vì miếng ăn còn chẳng đủ, lấy đâu ra tiền đóng học phí. Năm nay bà 55 tuổi, kém chồng 4 tuổi nhưng trên gương mặt vẫn phảng phất một thời thu sắc.
Những ngày tháng cơ cực đó như những vệt ký ức xám đọng lại trong trí nhớ của bà và nhắc bà về sự tri ân với rất nhiều người đã chìa tay ra giúp bà cùng các con. Dẫu sao, nếu ông không bị bắt thì mọi trách nhiệm đâu đã trút hết xuống đầu bà. Phận đàn bà mà phải bươn chải mưu sinh bao giờ cũng cực nhọc, xót xa. Dẫu vậy, bà luôn tâm niệm, phải vượt qua tất cả, bởi sau bà là đàn con thơ dại và cần phải làm những gì có thể để lấy lại danh dự cho ông. Nếu bà lăn ra ốm thì các con sẽ khổ, ông ở trong trại tạm giam mà biết điều này chắc sẽ buồn vô cùng.
Những ngày đông cắt da cắt thịt hay những ngày mưa ngập trắng đường, bà dậy từ tờ mờ sáng, phóng xe về các huyện ngoại thành mua hoa quả rồi mang về nội thành bán kiếm chút lời, nuôi các con và tiếp tế cho ông. Các con bà cũng hay lam hay làm giống bố mẹ. Tí tuổi đầu đã phải đi làm thuê. Hơn một lần khi nhìn các con gầy guộc dù đang tuổi ăn tuổi lớn, bà phải quay mặt đi để nuốt những giọt nước mắt mặn chát vào lòng.
Kể về những khó khăn thì nhiều lắm. Nhưng có những chuyện mà giờ nhớ lại, bà và các con cười đấy mà nước mắt lăn ròng. Đó là vào thời điểm khó khăn nhất, khi đồng tiền cuối cùng trong túi đã hết, thùng gạo đã gần cạn, chỉ đủ nấu nồi cháo loãng, bà bảo các con là vẫn còn đồ ăn. Thế rồi bà lầm lũi ra chợ Mơ xin các bà bán rau những mớ rau héo dập cuối ngày về luộc. Nồi rau lõng bõng tỏa khói nghi ngút đó đến hôm nay vẫn còn ám ảnh giấc mơ những đứa con bà. Nó không chỉ gợi nhắc quá khứ buồn tủi mà còn dạy người ta biết trân trọng hơn những gì mình đang có.
Ba cô con gái của ông bà sớm lăn lộn nên trưởng thành và giờ đều có cơ ngơi bề thế. Riêng cô út mới 12 tuổi vẫn sống với ông bà. 6 đứa cháu ngoại của ông bà đứa nào đứa nấy mặt mũi sáng sủa, tròn như củ khoai, củ sắn. Mỗi dịp cuối tuần, chúng lại được bố mẹ đưa về thăm ông bà. Ngôi nhà như chật hơn bởi tiếng cười nói râm ran và mùi thức ăn tỏa ra ngào ngạt.
3. Hồi trẻ, ông Tiến khá điển trai, có máu văn nghệ. Đêm nào có đoàn văn công về huyện biểu diễn, ông trốn cha mẹ cùng bạn bè đi xem bằng được. Ông mê nhất cải lương, thuộc nhiều trích đoạn cổ và sẵn sàng múa hát cho bà con xem. Thế rồi, dù cha mẹ kiên quyết phản đối nghiệp “xướng ca vô loại”, ông vẫn thi và trúng tuyển vào Đoàn Cải lương Kim Phụng. Trong cuộc đời chìm nổi của mình, ông đã có 10 năm khóc cười dưới ánh đèn sân khấu. Với ông, sâu khấu luôn là một thánh đường, rực rỡ sắc màu và những vai diễn biến ảo đậm màu hỉ nộ ái ố cuộc đời. Thế nhưng, con người không thể sống mãi trong ánh đèn ma mị đó mà họ phải bước xuống, sống thật với vai diễn là cuộc đời mình - một vai diễn không hề có kịch bản.
Trong số những vai từng đảm nhận, ông thích nhất vai Tống Trân trong vở Tống Trân - Cúc Hoa. Chàng Tống Trân và nàng Cúc Hoa trong kịch đã trải qua muôn trùng sóng gió, thử thách với hơn 10 năm ly biệt, để rồi như sự bù đắp của số phận, sự nhân hậu, thủy chung của họ khiến ông trời cũng phải động lòng và họ đã có những tháng ngày cuối đời hạnh phúc, viên mãn.
Đó là chàng Tống Trân trên sân khấu, còn với ông - chàng Tống Trân đang sống ở thế kỷ XXI giờ đây dù đã lùi về an phận cảnh điền viên nhưng vẫn u buồn bởi một nửa sự thật còn nằm trong bóng tối. Và vì thế, ông phải sống và tiếp tục hy vọng vào những điều tốt đẹp ở phía cuối con đường