Mùa hạ, Đèo Ngang và thơ Nguyễn Văn Thạc

Hy sinh khi chưa tròn 20 tuổi đời và chỉ hơn 10 tháng tuổi quân nhưng với 240 trang nhật ký “chuyện đời” mà Nguyễn Văn Thạc ghi lại trong những ngày tháng hành quân vào mặt trận thực sự truyền cảm hứng với tất cả sự khát vọng, say mê, sự khao khát, nhiệt huyết “mãi mãi tuổi hai mươi”.

Trong hơn 10 tháng quân ngũ, Nguyễn Văn Thạc hành quân và lưu lại tại đất Hà Tĩnh khoảng tháng rưỡi. Chừng đó thời gian cũng đủ để anh cảm nhận và dành tình cảm sâu sắc với thiên nhiên, con người nơi đây. Cảm nhận về đất núi Hồng, sông Lam bắt đầu với những trang viết giữa tháng tư năm 1971, khi đơn vị của anh di chuyển bằng tàu hoả qua TP Vinh rồi bằng xe ôtô tải vào Cẩm Xuyên: “Mình nhìn núi Quyết, núi Hồng Lĩnh và nhà máy điện Vinh, những tên đất nước đã đi vào lịch sử, thế mà mọi cái đều đơn sơ, đều giản dị như chính con người tuyệt diệu ở nơi đây”.

Tháng tư, hành quân tiếp giáp với vùng “đất lửa” vĩ tuyến 17, những trang nhật ký anh viết tại Hà Tĩnh đã sục sôi không khí cuộc chiến, đó là những đêm chạy tránh máy bay ném bom, chớp lửa rực trời, sự hối hả của thanh niên xung phong đào đường lấp hố bom, những cung đường gồ ghề “xóc nẩy tung người”…

Tr23 SĐB - Mùa hạ, Đèo Ngang và thơ Nguyễn Văn Thạc -0

Là chàng trai giỏi văn, từng đoạt giải Nhất văn toàn miền Bắc năm học 1969-1970 nên những trang viết của anh luôn giàu cảm xúc, đó là sự hoà trộn của khát khao, nhiệt huyết của người lính trẻ trên đường ra trận với tình yêu quê hương, đất nước mãnh liệt cùng những cảm xúc lãng mạn về “nỗi nhớ Như Anh” – người bạn gái quen qua những buổi luyện thi.

Sau này, chị Như Anh kể rằng, hai người quen nhau với 5 lần gặp gỡ, tổng thời gian khoảng 20 tiếng. Nhưng chừng đó thời gian cũng đủ để họ cảm mến và hình ảnh của người con gái Hà thành với mái tóc đen dài, ôm chiếc cặp xinh xắn đã trở thành mạch nguồn bất tận của Nguyễn Văn Thạc khiến mọi trang viết nhật ký dù lúc mộng mơ lãng mạn hay những lúc mệt mỏi, buồn tủi cũng đều mang bóng dáng Như Anh.

Thế nên, “hành quân ban đêm giữa cánh đồng tối đen như mực, đeo nặng, mệt nhưng khoan khoái biết chừng nào. Tháng tư, đom đóm bay ra sáng lung linh trong cỏ, trên những bụi cây ướt hơi sương. Bỗng nghĩ, đom đóm có tên riêng không nhỉ, con đang lượn dưới dòng suối cạn hẳn tên là Kiều Diễm vì nó trong sáng và hiền dịu lạ lùng, vì nó lấp lánh, lấp lánh đến kinh ngạc đấy bạn ơi. Mình hỏi Chung – có biết bài hát con đom đóm, bởi đang nhớ tới hôm nào đi bên Như Anh. Như Anh cũng hỏi mình như vậy”…

Và đây là cảm nhận về o Hồng - người con gái Hà Tĩnh khi anh và đồng đội sống trong gia đình của o ở Cẩm Xuyên những ngày tháng tư, trước khi hành quân vào chiến trường: “O ấy bảo, chúng em chỉ thích đi bộ đội nhưng khám sức khoẻ không đủ nên phải ở nhà, ở nhà và đi dân công hoả tuyến. Mình trố mắt ngạc nhiên vì người ngồi trước mặt mình kia, che miệng khi cười và chẳng bao giờ đi làm về dám bước thẳng vào nhà khi có bộ đội ở trong lại là người có mặt trong chiến dịch đường 9, Khe Sanh, Trị Thiên. Lại là người cõng thương binh, tiếp đạn, là người thu dọn chiến trường”.

Người phụ nữ gầy nhỏ, tỏ ra bẽn lẽn “chẳng bao giờ đi làm về dám bước thẳng vào nhà khi có bộ đội ở trong” lại có sức mạnh kỳ lạ khi gan góc đương đầu với thử thách đạn bom, cõng thương binh, tiếp đạn cho bộ đội. Hình ảnh của o Hồng trong cuốn nhật ký xuất hiện khá sinh động trong những dòng văn giàu biểu cảm của Nguyễn Văn Thạc mà anh mô tả như nguyên mẫu cô thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật:

Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để
Anh lặng người như trôi trong tiếng ru...

Có thể thấy, những ngày sống ở đất Hà Tĩnh, trong những mái nhà, bếp củi của người dân nơi đây như o Hồng, ông Y, trong tiếng máy bay gầm rú, trút lửa đạn, chàng trai Hà thành từ chỗ “cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá” đã ăn, ở trong dân, thấu hiểu đời sống, tình cảm người dân trong khói lửa cuộc chiến và đây cũng chính là thời gian anh viết, bày tỏ nhiều về “cái tôi trong cái ta”, về lý trí tuổi trẻ trước mệnh lệnh Tổ quốc.

Trong trang viết ghi ngày 15/4/1972, anh bày tỏ: “Những ngày mà mình nhớ rất nhiều đến các bạn cùng học với mình, cùng trường. Có người đi bộ đội đã hy sinh, có người còn ở tiền tuyến, có người ở nhà và có người đi học nước ngoài. Mỗi người một công việc quan trọng do đất nước phân công. Mình rất tin rằng, mỗi người bạn ấy sẽ có lúc nhớ lại những mái trường các bạn đã đi qua, sẽ nhớ những kỷ niệm chẳng bao giờ có thể phai nhoà và những ước muốn xôn xao khi cửa đời rộng mở. Có thể mượn ý Tố Hữu mà nói ở đây “Ta chính là hôm nay và các bạn chính là mãi mãi”. Nhưng làm sao có thể có tương lai đẹp đẽ khi không có những người hôm nay đang cầm súng, đang gian khổ đánh giặc”.

Chẳng những anh không hề so bì hơn thiệt với bạn bè khi “người ra tiền tuyến, người đi học nước ngoài” mà khẳng định, ở vị trí nào cũng phải cống hiến và phấn đấu hết mình. Với anh, đi bộ đội không chỉ là đánh giặc mà còn là “một phần thưởng”. Anh giải thích điều này: “Được sống những ngày oanh liệt và vẻ vang nhất của đất nước, khi mà dân tộc ta đang thắng lớn và bước nhanh đến ngày thắng lợi hoàn toàn”. Và dù với quãng thời gian chỉ mấy tuần hành quân, lưu lại mảnh đất này nhưng “phải nói, ở mỗi người sống trên đất Hà Tĩnh đều có một mối quan tâm đáng quý đối với đất nước. Họ lo lắng cho vùng bị bom đạn địch tàn phá. Họ lo lắng cho cả những vùng họ nghi rằng địch sắp đổ bộ. Đây là nơi đầu tiên mình thấy sự căm thù, khinh bỉ kẻ thù của dân tộc dữ dội nhất, mạnh mẽ nhất”!

nguyen van thac 2 copy.jpg -0
Nguyễn Văn Thạc (bên phải) và bạn trước ngày nhập ngũ, năm 1971. Ảnh: Tư liệu

Gia tài người lính khi hành quân đến Đèo Ngang, tháng 5 năm 1972 được anh mô tả: buộc phải vứt hết sách, vở, chăn màn, áo rét, chỉ giữ lại 2 bộ quần áo dài, quần áo lót, tăng, võng màn, mấy tấm ảnh, 3 quyển sổ. Gia tài người lính chỉ có vậy thôi! Nơi anh đóng quân trong một cánh rừng, chỉ cách biển chừng 100m, qua một cồn cát trắng và con mương nước ngọt. Cảnh đẹp, hoang dã nhưng “cái chết lúc nào cũng đi bên cạnh” bởi máy bay ném bom, tàu chiến và pháo kích.

Trong cái ngột ngạt và vô cùng nan nguy đó, lúc này đây, trên con đèo đã đi vào sử sách, thi ca, chính cảm xúc tình yêu là mạch nguồn, động lực của người lính trẻ: “Mặc dù cuộc sống, chiến đấu ngổn ngang, bề bộn và căng thẳng, mình vẫn không bao giờ quên được Như Anh… Nỗi nhớ bây giờ không còn là niềm rạo rực, bồn chồn như năm trước mà im lìm, thấm thía, mà là nỗi day dứt, trăn trở”. Và đây là bài thơ anh viết khi hành quân qua Đèo Ngang, qua đất Quảng Bình giữa mùa hè lộng gió, tím ngát hoa mua:

Tôi đã đi rất xa em rồi
Chẳng dễ về thăm em trong phố nhỏ
E ấp cánh hoa mua vào trong sổ
Tím lòng mình và tím cả lòng em

Đường tôi đi hành quân trong đêm
Hoa đã lẫn vào màu trời tím biếc
Có nhìn thấy hoa đâu mà tôi vẫn biết
Hoa mùa hè nhuộm tím cả trời mây…

“Tôi đã đi rất xa em rồi/ Chẳng dễ về thăm em trong phố nhỏ” – nỗi niềm đau đáu “đi rất xa em rồi” giữa núi đèo mây gió, giữa biển sóng và tím hoa mua không ngờ lại là những cảm xúc, những dòng thơ cuối cùng của cuộc đời người lính trẻ. Bài thơ viết đề ngày 23/5/1972 và chỉ mấy ngày sau, anh phải gác lại những trang nhật ký “chuyện đời” với những dòng trăn trở, tâm tư: “Kẻ thù không cho tôi ở lại, phải đi. Tôi sẽ gửi về cuốn nhật ký này, khi nào trở lại, tôi sẽ viết nốt những gì lớn lao mà tôi đã trải qua từ khi xa nó, xa cuốn nhật ký thân yêu đầu tiên của đời lính”. Nhưng “Ừ, nếu như tôi không trở lại, ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng sau này?”. Cuốn nhật ký khép lại ở ngày 3/6/1972 và sau đó gần 2 tháng, ngày 30/7/1972, anh ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị.

Tháng tư năm 2005, cuốn nhật ký chính thức xuất bản. Cùng với nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, sự ra mắt hai cuốn nhật ký thời chiến trở thành hiện tượng đặc biệt của ngành Xuất bản lúc đó khi đón nhận sự quan tâm lớn của bạn đọc. Tôi lưu giữ hai cuốn nhật ký từ dịp đó và đọc lại rất nhiều lần, nhớ nhiều trang viết và nhớ những vần thơ đầy cảm xúc tuổi hai mươi…

Đăng Trường

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.