Một góc nhìn về âm nhạc Trịnh Công Sơn: “Từng con đường nhỏ trả lời cho tôi…”

Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX từ ca khúc, Trịnh Công Sơn là một trong những tên tuổi lớn và tiêu biểu nhất, là nhạc sĩ hiếm hoi của Việt Nam có tên trong Từ điển Bách khoa Pháp Les Million. Các ca khúc của ông, ngoài vẻ đẹp của giai điệu, còn được đánh giá rất cao ở chất thơ và sự gợi cảm của ca từ.

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của Trịnh Công Sơn, chúng tôi muốn bàn về một miền không gian thật đặc biệt, trở đi trở lại trong hàng loạt ca khúc của ông, đó là không gian phố.

Có thể nói, hầu hết cuộc đời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gắn liền với phố. Ông lớn lên tại thành phố Huế, tốt nghiệp tú tài tại Sài Gòn, chỉ sống ở Bảo Lộc mấy năm (1964-1967) rồi sau đó lại quay về Sài Gòn sống cho đến những năm tháng cuối đời. Phố vì thế là không gian mật thiết, gắn với từng bước chân, từng giác quan của người nghệ sĩ. Có thể thấy, phố trong ca từ Trịnh Công Sơn có rất nhiều gương mặt khác nhau, biểu hiện khác nhau.

“Từng con đường nhỏ trả lời cho tôi…” -0

Chiều một mình qua phố

Sự nghiệp âm nhạc của Trịnh được coi là bắt đầu bằng bản “Ướt mi” do NXB An Phú in năm 1959 qua giọng ca Thanh Thúy. Ở tình khúc buồn đầu tay này, mưa là thứ tràn ngập trong lời bài hát. Không gian ca khúc quanh quẩn nơi mái hiên trong tâm sự của một người con gái: “Ngoài hiên mưa rơi rơi/ Buồn dâng lên đôi môi/ Buồn đau hoen ướt mi ai rồi”. Nhưng, chỉ 2 năm sau đó, không gian phố bắt đầu tràn ngập trong những lời ca của Trịnh Công Sơn. Không gian được mở rộng hơn và nỗi cô đơn cũng thường trực hơn.

Chủ thể trữ tình của lời ca không còn là bóng dáng một người con gái như thuở “ướt mi” nữa, mà là chính tác giả: “Chiều một mình qua phố/ Âm thầm nhớ nhớ tên em/ Gió ơi gió ơi bay lên/ Để bụi đường cay lòng mắt”. Điệp khúc “Chiều một mình qua phố” cứ thế trở đi trở lại trong tất cả các phiên đoạn của bài hát để rồi cho đến câu cuối cùng thì nỗi cô đơn khắc khoải càng dâng lên gấp bội: “Còn một mình trên phố/ Âm thầm nhớ nhớ tên em/ Ngoài kia không còn nắng mềm/ Ngoài kia ai còn biết tên”. (1961).

Bên cạnh cô đơn, phố còn gắn với những đợi chờ, những khát khao, những tình yêu mãi còn trong dang dở: “Đóa hoa hồng cài lên tóc mây. Ôi đường phố dài/ Lời ru miệt mài ngàn năm ngàn năm” (Tuổi đá buồn, 1961), “Ngày mai em đi, thành phố mắt đêm đèn vàng” (Biển nhớ, 1962), “Khi bước chân ta về, đêm khuya nhìn đường phố/ Thành phố hoang vu như một lần qua cuộc tình” (Tình xa, 1966-1967).

Hình hài phố trong ca từ Trịnh Công Sơn có thể là đường phố, là thành phố mà cũng có thể là những không gian thuộc phố gây cảm giác cô liêu bơ vơ, như công viên: “Đã mấy lần thu sang/ Công viên chiều qua rất ngắn” (Nhìn những mùa thu đi). Cũng có khi công viên gắn với hình ảnh một người con gái, đẹp nhưng buồn với những u uẩn khó cất thành lời: “Em qua công viên bước chân âm thầm/ Ngoài kia gió mây về ngàn/ Cỏ cây chợt lên màu nắng/ Em qua công viên mắt em ngây tròn/ Lung linh nắng thủy tinh vàng/ Chợt hồn buồn dâng mênh mang” (Nắng thủy tinh, 1963).

Nhìn chung, phố trong ca từ Trịnh Công Sơn với những tình khúc trước 1975 thường chủ yếu gắn với nỗi buồn, hoài niệm, sự bâng khuâng vô định, cũng có lúc là cả những ngỡ ngàng thảng thốt: “Đường thật lặng yên lòng không gì nhớ/ Giật mình nhìn quanh ồ phố xa lạ” (Bên đời hiu quạnh, 1970-1971), “Một hôm bước qua thành phố lạ/ Thành phố đã đi ngủ trưa” (Đêm thấy ta là thác đổ, 1971). Ngay cả khi tiễn người con gái mình thương yêu về với phố phường, bên cạnh việc mong niềm vui sẽ đến với nàng thì dự cảm nỗi buồn cũng vẫn lẩn khuất đồng hành: “Thôi chào em về giữa phố xá thênh thang/ Không gì vui thì hãy gắng nhớ đôi lần”. (Quỳnh hương, 1974)

Phố của những buồn thương

Từ 1967 đến 1972, phố vẫn tiếp tục xuất hiện trong ca từ Trịnh Công Sơn và nó gắn trực tiếp với vận mệnh sinh tử của mỗi con người trong vùng không gian loạn lạc, chiến tranh. Có rất nhiều người đã mãi mãi nằm xuống trong cuộc chiến, trong đó có cả những bạn hữu thân thiết của Trịnh Công Sơn. Những thân phận yếu ớt bơ vơ hiện lên trong sự tàn khốc của chiến tranh: “Ghế đá công viên dời ra đường phố/ Người già co ro chiều thiu thiu ngủ/ Người già co ro buồn nghe tiếng nổ/ Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi”. (Người già em bé, 1965).

Nhưng, giá trị các ca khúc giai đoạn này của Trịnh Công Sơn không chỉ dừng lại ở phản ánh hiện thực, nó còn gửi gắm vào đó bao khát vọng hòa bình, niềm tin về một ngày không còn chiến tranh. Phố trong ca từ Trịnh là những cái tên cụ thể, là những thênh thang kết nối tự do bước chân con người: “Dù hôm nay tôi chưa nhìn Hà Nội/ Dù hôm nay em chưa thấy Sài Gòn/ Nhưng sao lòng tôi vẫn chưa mất niềm tin/ Vì quê hương sẽ có ngày thanh bình”. (Chưa mất niềm tin, 1968), “Khi đất nước tôi thanh bình/ Tôi sẽ đi thăm một phố đầy hầm/ Đi thăm một con đường nhiều hố/ …Tôi sẽ đi không ngừng/ Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam” (Tôi sẽ đi thăm, 1967)

Phố của tin yêu, hy vọng

Khi tháng Tư lịch sử, ngày thống nhất non sông đã điểm, Trịnh Công Sơn lên sóng Đài Phát thanh Sài Gòn, kêu gọi người dân ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đồng thời cùng một số thanh niên hát vang ca khúc “Nối vòng tay lớn”. Phố trong lời bài hát là sự rộng mở nối liền mọi miền không gian: “Vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo/ Từ quê nghèo đến phố lớn nắm tay nối liền/ Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh”.

Phố trong những ca khúc tiếp theo của nhạc Trịnh sau 1975 là những con phố với nhiều ấm áp, trìu mến thân thương: “Những con đường lứa đôi/ Những góc hè phố vui/ …Nắng như môi hoàng hôn trên phố”. (Chiều trên quê hương tôi, 1980), “Em cùng lá tung tăng như loài chim đến/ Và đã hót giữa phố nhà/ …Bao đường phố em qua nắng lên đứng chờ/ Đường dìu chân em đi đến những miền xa”. (Tuổi đời mênh mông, 1982). Phố đi vào các tình khúc với đầy những quyến luyến yêu thương: “Em còn nhớ hay em đã quên/ Trong lòng phố mưa đêm trói chân/ Dưới hiên nhìn nước dâng tràn/ Phố bỗng là dòng sông uốn quanh”. (Em còn nhớ hay em đã quên, 1980), “Hôm chợt thấy em đi về bên kia phố/ Trong lòng bỗng vui như đời rất lạ…/ Dưới đường phố kia có người nhớ em/ Nằm mộng suốt đêm trong thiên đường”. (Cho đời chút ơn, 1993). Cho dù tình yêu chưa trọn vẹn thì hồn người cũng không còn lạc lõng bơ vơ như thuở trước.

Phố của thời bình hiện lên nhiều hơn vẻ đẹp của những người con gái: “Em đến bên đời/ Hoa vàng một đóa/ Một thoáng hương bay/ Bên trời phố hạ/ …Một cõi bao la/ Ta về ngậm ngùi/ Em cười đâu đó/ Trong lòng phố xá đông vui” (Hoa vàng mấy độ, 1981), “Em hai mươi tuổi em bây giờ/ Chân qua phố phường phố ngẩn ngơ/ …Sài Gòn xua tan nghìn dấu lệ/ Cho em bây giờ mắt tình đưa” (Hai mươi mùa nắng lạ, 1995).

Sau này, phố tiếp tục trở thành cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ sống và viết tại thành phố Hồ Chí Minh. Phố trong các sáng tác của các nhạc sĩ thuộc lứa trưởng thành sau 1975 có gương mặt sôi động, hối hả hơn. Dù có viết về những nỗi buồn, chia xa thì nhịp điệu của lời ca và giai điệu vẫn đi theo một lối khác hẳn, chẳng hạn: “Đi bên em chiều trên lối vắng/ Phố xa phố xa ngỡ như thật gần/ Đôi vai em gầy trong chiếc lá/ Giờ là đợi chờ nhớ mong mùa xuân” (Phố xa - Lê Quốc Thắng), “Hỡi chiếc lá me xanh rơi trên đường xưa nắng hoa/ Còn nhớ góc phố thân quen bâng khuâng chờ nhau thiết tha/ Hỡi góc phố dịu dàng và hàng me anh đưa em đi ăn kem mỗi chiều/ Hỡi góc phố dịu dàng và nụ hôn tan nhanh rất mau trong ly chè kem” (Góc phố dịu dàng - Trần Minh Phi). Trong khi đó, phố của những nhạc sĩ sinh trưởng gốc Bắc lại có vẻ trầm lắng ưu tư hơn, nhịp điệu ca khúc cũng chậm hơn: “Đêm đêm nằm mơ phố, trăng rơi nhòa trên mái/ Đi qua hoàng hôn ghé thăm nhà/ Em như là sương khói, mong manh về trên phố/ Đâu hay một hôm gió mùa thu” (Đêm nằm mơ phố - Việt Anh).

Trở lại câu chuyện phố của Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ sinh ra ở Huế, cả cuộc đời hầu hết gắn bó với Sài Gòn ấy đã dành tặng cho Hà Nội 2 tình khúc thật đẹp về mùa thu. Này đây là một quyến luyến không muốn rời xa: “Bởi vì mùa thu tôi ở lại/ Hà Nội mùa thu Hà Nội thu/ …Vì một bàn tay không ngần ngại/ Tặng hết cho tôi một phố chờ” (Đoản khúc thu Hà Nội, 1995).

Và còn đây nữa là nỗi niềm riêng đã hòa vào cái chung, để mỗi khi Hà Nội vào thu, mỗi khi nhớ mùa thu Hà Nội lòng ta còn mãi ngân lên những câu hát: “Hà Nội mùa thu cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu…/ Hà Nội mùa thu, đi giữa mọi người/ Lòng như thầm hỏi tôi đang nhớ ai/ Sẽ có một ngày, trời thu Hà Nội trả lời cho tôi/ Sẽ có một ngày, từng con đường nhỏ trả lời cho tôi” (Nhớ mùa thu Hà Nội, 1984).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.