Năm nay hội nghị của Liên Hiệp Quốc về khí hậu diễn ra tại Durban (Nam Phi). Trên bàn nghị sự, người ta chỉ bàn về phương cách để loại bỏ sự lệ thuộc vào than đá. Nhưng trong lúc những cuộc thảo luận cứ kéo dài từ Nairobi (Kenya) sang Bali (Indonesia) rồi Poznan (Ba Lan) và Copenhagen (Đan Mạch), giờ lại đến Durban, sự lệ thuộc đó chỉ càng nặng thêm.
Khi những hội nghị bắt đầu cách đây 5 năm, than đá cung cấp 25% nhu cầu năng lượng sơ cấp, hiện nay con số này là 29,6%. Từ năm 2009 đến 2010 mức tiêu thụ của thế giới đã tăng 8%. Chính nước chủ nhà đã đề nghị sẽ giảm bớt lượng khí thải carbon. Nhưng thực tế Nam Phi đang có lượng khí thải bằng với những nước giàu. Mức CO2 trên đầu người tại Nam Phi cao hơn của Anh. Nam Phi có lượng khí CO2 từ nhiên liệu hóa thạch chiếm 40% của toàn châu Phi. Kẻ chịu trách nhiệm không gì khác hơn là than đá.
Việc sản xuất năng lượng từ than đá thải ra gấp đôi lượng CO2 so với khí đốt. Nam Phi là một trong những quốc gia lệ thuộc vào than đá nhiều nhất: 93% điện năng là từ than đá so với 80% ở Trung Quốc, 70% ở Ấn Độ và 45% ở Mỹ. Ngoài ra Nam Phi là nước xuất khẩu than đá đứng hàng thứ 3 trên thế giới. Các mỏ than khổng lồ tại Mpumalanga ở miền Đông Bắc nước này tuôn ra hàng đoàn tàu hỏa đi đến Richards Bay. Cảng này có thể xử lý 91 triệu tấn than mỗi năm - đủ để thải ra hơn 200 triệu tấn CO2. Các công ty mỏ Anglo American và BHP Billiton vận chuyển loại nhiên liệu này sang châu Âu và những nước công nghiệp mới ở châu Á.
Trung Quốc tuy là nước sản xuất máy điện gió và pin Mặt trời nhiều nhất thế giới nhưng đã tăng gấp đôi mức tiêu thụ than đá trong vòng 8 năm qua. Trong năm 2010, đến 48% lượng than đá tiêu thụ trên toàn thế giới là ở Trung Quốc. Đường sá Trung Quốc đầy những xe tải chở than từ các mỏ đến những nhà máy nhiệt điện.
Tại Ấn Độ cũng thế, lượng than tiêu thụ đã tăng gấp đôi trong 12 năm. Từ đây đến năm 2020, số nhà máy nhiệt điện dùng than sẽ tăng gấp 3. Ấn Độ giống như Trung Quốc cũng có những trữ lượng rất lớn nhưng do nền kinh tế tăng quá nhanh nên các mỏ than không sản xuất kịp và mức nhập khẩu phải tăng theo. Cảng Richards Bay ở Nam Phi là một trong các nguồn cung cấp hàng đầu cho Ấn Độ, bên cạnh Australia và Indonesia. Hơn nữa trước cuối thập niên này Indonesia sẽ trở thành nước xuất khẩu than hàng đầu thế giới.
Nhưng những điều đó cũng không giảm nhẹ trách nhiệm của phương Tây. Mỹ là nước tiêu thụ than thứ nhì thế giới sau Trung Quốc. Đức dẫn đầu về sản xuất than đá nâu. Dự án loại bỏ năng lượng hạt nhân khiến cho mức đầu tư vào than đá tăng lên.
Tại sao không ai quan tâm đến vấn đề đó? Đơn giản là vì tiện lợi. Đó là một sự thật đáng buồn, nhưng than đá vẫn là loại nhiên liệu rẻ tiền nhất để cung cấp điện, để sưởi ấm và cung cấp năng lượng cho công nghiệp.
"Than đá sạch" là phát kiến mới nhất của các nhà công nghiệp. Nhưng hiện thời loại than sạch này vẫn chưa có. Đấy là một khái niệm lý thuyết một ngày nào đó sẽ trở thành hiện thực nhờ một kỹ thuật gọi là "giam hãm CO2" - khí carbonic được hóa lỏng rồi chôn xuống đất. Nhưng sự thiết lập ngành kỹ nghệ mới này với quy mô lớn sẽ không ra đời sớm hơn trong vòng 20 năm tới, hơn nữa còn phải cần đến hàng chục tỉ USD đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Thế nhưng với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, các nguồn đầu tư cần thiết đang khô cạn. Vì thế, loại nhiên liệu rẻ nhất, nhiều nhất và gây ô nhiễm nhất vẫn bành trướng đế quốc của nó bất chấp các hội nghị