Không đánh đổi chất lượng môi trường
Kinh tế đại dương bền vững hay kinh tế xanh (Blue Economy) là một khái niệm mới nổi dùng để chỉ sự phát triển của các hoạt động kinh tế biển một cách tổng hợp và bền vững. Cách tiếp cận kinh tế biển bền vững thường vượt ra ngoài việc coi đại dương là nơi cung cấp các nguồn lực kinh tế duy nhất và kêu gọi bảo vệ, phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi tìm cách cải thiện phúc lợi của con người và công bằng xã hội.
Theo các số liệu từ Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có hơn 70 triệu người (khoảng 72% tổng dân số) sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển của cả nước, đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng.
Việt Nam cũng có đường bờ biển dài 3.260km (chưa bao gồm các đảo) chạy dọc từ Móng Cái ở phía Bắc tới Hà Tiên ở phía Tây Nam. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47% - 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế thuần biển đạt khoảng 20 - 22% tổng GDP cả nước. 83% sản lượng gạo trong nước cũng tập trung ở các tỉnh đồng bằng và ven biển thấp. Các ngành kinh tế biển chính ở Việt Nam gồm năng lượng tái tạo biển, dầu khí, thủy hải sản, du lịch, vận tải biển, môi trường, đa dạng sinh học và các dịch vụ sinh thái.
Tuy nhiên, các nghiên cứu mới đây của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, hiện nhiều thành phố và đồng bằng ven biển đang bị sụt lún ở tốc độ đôi khi còn cao hơn nhiều tốc độ mực nước biển dâng do các nguyên nhân tự nhiên và con người, và cơ sở hạ tầng đô thị đang gặp áp lực lớn. Các rủi ro an ninh liên quan đến khí hậu cũng là một vấn đề đáng quan ngại.
Biến đổi khí hậu đã làm trầm trọng hơn và tạo ra các rủi ro an ninh toàn cầu, khu vực và quốc gia bao gồm các áp lực di cư, tái định cư và xung đột tranh giành nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng khan hiếm. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã chọn phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, có sự liên kết chặt chẽ với cộng đồng quốc tế.
Tháng 12 tới, Việt Nam đăng cai chủ trì tổ chức hội nghị quốc tế về Kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là hoạt động cần thiết, góp phần quan trọng nâng cao vai trò của Việt Nam phát triển bền vững kinh tế đại dương, thích ứng với biến đổi khí hậu; chung tay giải quyết các vấn đề thách thức chung toàn cầu.
Chia sẻ tại hội thảo lấy ý kiến báo cáo đánh giá tiềm năng kinh tế biển xanh do Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và UNDP tổ chức chiều 5/11, ông Đào Xuân Lai, Trưởng ban Biến đổi khí hậu và Môi trường UNDP Việt Nam cho biết: "Kinh tế biển là một mối tổng hòa của các ngành trên một môi trường biển có sự gắn kết chặt chẽ, sự phát triển của một ngành có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến các ngành khác. Chỉ có tiếp cận và phối hợp đa ngành mới tối ưu hóa phát triển kinh tế biển xanh Việt Nam".
Đồng thời, ông Đào Xuân Lai cũng nhấn mạnh, việc đảm bảo rằng tăng trưởng kinh tế biển không phải đánh đổi chất lượng môi trường là điều cơ bản để đảm bảo một nền kinh tế xanh mạnh mẽ ở Việt Nam. Muốn phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, Việt Nam cần có sự liên kết chặt chẽ với cộng đồng quốc tế.
Đồng quan điểm này, ông Bùi Tất Thắng, Viện Nghiên cứu phát triển - Bộ Kế hoạch & Đầu tư cũng khẳng định, dư địa phát triển cho từng lĩnh vực kinh tế biển của Việt Nam còn khá rộng mở, chưa dẫn đến xung đột lớn giữa các ngành, phát triển chưa đến mức xung đột lợi ích lớn để giải quyết.
Do đó, trong 10-15 năm tới, các kịch bản tăng trưởng kinh tế đều theo hướng nhanh hơn nhờ các yếu tố khoa học công nghệ, nâng cao năng suất kết hợp bảo tồn hệ sinh thái và duy trì đa dạng sinh học.
Kịch bản xanh trên nền các hệ sinh thái
Tại hội thảo, nhiều chuyên gia đến từ các bộ, ngành, các tỉnh, các viện nghiên cứu, Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế như ADB, WB, KOICA, IUCN, WWF… đã trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu chuyên đề cho 6 ngành kinh tế biển: Năng lượng tái tạo; dầu khí; thủy sản; giao thông biển; du lịch; môi trường, bao gồm đánh giá hiện trạng, thách thức, cơ hội, kịch bản phát triển xanh và mối liên quan tới các Mục tiêu phát triển bền vững.
Theo đó, biển Việt Nam có môi trường đặc trưng và khoảng 20 hệ sinh thái gồm các hệ sinh thái biển; các hệ sinh thái vùng nước quanh các đảo ven biển, đảo xa bờ, nhất là vùng nước, vùng đáy biển sâu (vùng biển quanh các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa). Rừng ngập mặn, rạn san hô, thảo có biển, đầm phá được xem là các hệ sinh thái đặc trưng, quan trọng nhất do chúng giá trị bảo tồn cao nhất.
Nhưng các hệ sinh thái đặc trưng này đang có xu hướng suy giảm gồm: Diện tích rừng ngập mặn và diện tích rừng nguyên sinh; gia tăng diện tích rừng trồng mới. Rạn san hô ở biển cũng bị suy giảm về diện tích và độ phủ san hô sống. Hệ sinh thái thảm cỏ biển đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái…
Phát triển kinh tế biển là một trong những nội dung rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân. Theo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", các ngành kinh tế biển đóng góp 10% GDP của cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển chiếm 65-70% GDP cả nước.
Các ngành kinh tế biển phát triển bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế; kiểm soát khai thác tài nguyên biển trong khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển. Một số kịch bản trong tương lai đến năm 2030 đã được phát triển cho từng lĩnh vực này dựa trên các biện pháp can thiệp và cải cách dựa trên từng lĩnh vực.
Các kịch bản bao gồm kịch bản kinh doanh như bình thường và kịch bản phát triển bền vững hay còn gọi là "xanh lam" phù hợp chặt chẽ với khái niệm nền kinh tế xanh. Một kịch bản xanh cũng được xây dựng trên nền các hệ sinh thái và nguồn tài nguyên biển đã chứng minh rằng giá trị hệ sinh thái, và đôi khi là diện tích của các sinh cảnh chính (rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô và đầm phá) có thể được tăng lên. Cụ thể, Việt Nam cần thực hiện nhiều biện pháp để tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái thông qua mở rộng diện tích khu bảo tồn biển tự nhiên; tất cả các hoạt động khai thác, sử dụng hệ sinh thái, đa dạng sinh học sẽ bị hạn chế.
PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên môi trường nhấn mạnh: "Mặc dù các hoạt động kinh tế trên biển rất đa dạng, bao gồm khai thác dầu khí, du lịch, nuôi trồng thủy hải sản, giao thông vận tải, năng lượng... Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế này đều chứa các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển".
Từ thực tế này, PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh cho rằng Việt Nam cần sớm hoàn thiện quy hoạch không gian biển và phân định rõ các khu chức năng, nhất là các khu bảo tồn biển; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và hệ sinh thái biển; lượng hóa được các giá trị kinh tế biển (vốn tự nhiên biển) để làm căn cứ cho việc thực hiện kinh tế biển xanh.
Đưa ra đề xuất đổi mới công tác quản lý tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển phù hợp với hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh khẳng định cần phải tăng cường khoa học và công nghệ trong điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển. Tức là, về trung và dài hạn, Việt Nam cần xây dựng cơ chế, chính sách đảm bảo quản lý tốt tài nguyên biển, đồng thời khuyến khích các hoạt động kinh tế biển dựa trên công nghệ thân thiện với môi trường; mở rộng thêm các ngành như dược phẩm biển, năng lượng biển; mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế trên biển như khuyến nghị mà ông Bùi Tất Thắng đưa ra…
Ngoài ra, một số chuyên gia còn khuyến nghị Việt Nam cần tổ chức xây dựng hệ thống thông tin kinh tế biển thống nhất; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho các hoạt động kinh tế biển; tổ chức tốt việc lập quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng ven biển; xác định một số dự án đầu tư trọng điểm, ưu tiên đầu tư từ các nguồn đầu tư công, khuyến khích tư nhân đầu tư vào các dự án sử dụng công nghệ xanh, năng lượng sạch…
Tránh quy hoạch treo, lãng phí tài nguyên đất