Giải pháp nào cho hòa bình Israel - Palestine?
Chuyến đi Trung Đông lần này của ông Obama nhằm đến ba nơi: Israel, Bờ Tây (Palestine) và Jordani.
Điểm dừng chân đầu tiên của ông là Israel ngày 20/3. Tổng thống Obama giải thích lý do vì sao ông chọn Israel làm chặng dừng đầu tiên trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông trong nhiệm kỳ thứ hai: "Trong khắp vùng này, các ngọn gió thay đổi đem lại cả sự hứa hẹn lẫn hiểm nguy. Vì vậy tôi coi chuyến thăm này như một cơ hội để tái khẳng định mối liên kết không thể phá vỡ được giữa hai quốc gia chúng ta, và một lần nữa nói lên cam kết bất di bất dịch của nước Mỹ đối với nền an ninh của Israel và nói chuyện thẳng với nhân dân Israel và các nước láng giềng của các bạn".
Đầy đủ ý: cam kết liên minh Mỹ - Israel là không lay chuyển mặc dù có những trục trặc gần đây; đưa ra bảo đảm về an ninh cho Israel trước các "kẻ thù" láng giềng (Iran và Syria) và mong Israel sẽ hòa thuận với Palestine. Nhưng rốt cuộc mọi việc cũng chưa đi đến đâu ngoài những tuyên bố mang tính ngoại giao.
Tuy nhiên, quan trọng nhất trong những vấn đề trên là việc Mỹ muốn Israel tái khởi động đàm phán hòa bình với Palestine. Nếu phân tích những gì "đạt được" giữa Tổng thống Obama và Thủ tướng Netanyahu, cũng như giữa ông Obama và Tổng thống Palestine Abbas thì có thể thấy hòa bình Trung Đông ở nghĩa rộng hay sự tái khởi động đàm phán Palestine - Israel để tiến tới thành lập hai nhà nước độc lập như Mỹ mong muốn là điều quá xa xỉ.
Khi ở Israel, cả Thủ tướng Netanyahu và Tổng thống Obama đều nói đang tìm cách nối lại các cuộc đàm phán hòa bình với người Palestine và đã đồng ý với nhau về mục tiêu là đi tới giải pháp 2 nhà nước cho hai nhân dân Israel và Palestine, và rằng không có giải pháp nào tốt hơn, khả thi hơn là giải pháp đó. Nhưng làm thế nào thì hai ông này lại không nói rõ. Còn khi nói chuyện với Tổng thống Abbas (ngày 21/3) ở Bờ Tây, ông Obama nói Palestine và Israel kêu gọi hãy bắt đầu các cuộc hòa đàm về những vấn đề cốt lõi trong cuộc tranh chấp giữa đôi bên, mà không cần phải chờ cho tới khi giải quyết xong các vụ tranh chấp ấy trước. Nhưng đời nào ông Abbas chịu.
Tổng thống Abbas đã nhiều lần nhấn mạnh rằng ông sẽ không tham gia thương thuyết cho tới khi nào Israel ngưng các hoạt động định cư trên trên vùng Bờ Tây, và đình chỉ xây cất nhà cửa tại Đông Jerusalem, là hai khu vực mà ông đòi để thành lập quốc gia Palestine. Mặt khác, tình hình Palestine cũng rất phức tạp với sự chia rẽ giữa chính quyền Tổng thống Abbas và phong trào Hamas, vốn ghét cay đắng và không muốn hòa bình với Israel. Trong khi Thủ tướng Netanyahu thì cũng từ lâu đã kêu gọi ông Abbas hãy tiếp tục các cuộc đàm phán trực tiếp mà không đặt ra điều kiện tiên quyết nào.
Vấn đề chính vẫn bế tắc. Người Palestine chỉ hy vọng Tổng thống Obama trong chuyến thăm này giúp họ thương lượng một thỏa thuận trả tự do cho 4.800 tù nhân Palestine đang bị Israel giam giữ, đồng thời giải ngân khoản viện trợ trị giá 700 triệu USD mà Mỹ hứa dành cho Palestine.
Xét về động lực, Mỹ không có gì phải vội để thúc đẩy tiến trình hòa giải giữa Israel và Palestine vì bản thân Tổng thống Obama đang còn ngập ngụa trong những vấn đề đối nội cấp bách hơn như vấn đề ngân sách hay nợ công, thúc đẩy kinh tế và giải quyết thất nghiệp.
Về phần Israel, nội các mới của ông Netanyahu xuất hiện một nhân vật mới. Cựu Tham mưu trưởng Moshée Yaalon vừa được bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tại Israel, Moshée Yaalon là nhân vật cực kỳ cứng rắn, nhất là đối với những gì liên quan tới công cuộc định cư của người Do Thái. Ông phản đối quyết liệt việc tạm ngừng công cuộc định cư mà Chính phủ Israel đôi ba lần đã phải thực hiện theo yêu cầu của Mỹ.
Với những gì phân tích ở trên, kết luận được rút ra ở đây là tiến trình hòa bình Trung Đông rất ít có cơ may được tái khởi động vào thời gian tới. Hầu hết các bên liên quan đều không muốn thúc đẩy, ngoại trừ Palestine đang đấu tranh theo con đường riêng của mình như việc được Liên Hiệp Quốc công nhận là quốc gia từ mấy tháng trước, còn lại Mỹ thì muốn hai bên kia bắt tay với nhau cho mình yên chuyện nhưng lại không hoặc chưa có cách làm họ ngồi lại với nhau. Trong khi Israel giờ vẫn làm theo cách của mình bất chấp sự phản đối của Mỹ và quốc tế. Hòa bình Trung Đông đang ở vào trạng thái treo lơ lửng.
Bài học từ cuộc chiến Bosnia 1995
Theo một số nhà phân tích, để đảm bảo lợi ích của Mỹ ở khu vực Trung Đông, nước này cần phải làm nhiều việc.
Thứ nhất, Mỹ phải hiểu rằng người dân Trung Đông không bao giờ từ bỏ khu vực này, cho dù họ đã quá mệt mỏi với chiến tranh. Số phận của người dân Trung Đông ở đây đã được ấn định trong nhiều thế hệ trước và người dân Trung Đông vẫn còn có lợi ích an ninh quốc gia tại khu vực mà các thế lực nước ngoài không thể lấy đi được.
Thứ hai, Chính phủ Mỹ nên bắt đầu nhìn nhận toàn bộ khu vực Trung Đông là một thực thể thống nhất thay vì coi đây là một khu vực với hàng loạt các cuộc khủng hoảng riêng rẽ. Sẽ không có tiến triển nào trong vấn đề Israel - Palestine chừng nào Israel còn lo ngại về Iran, Ai Cập và Syria, cô lập dải Gaza khỏi mọi cứu trợ về kinh tế và xã hội. Sự giảm thiểu các mối đe dọa khủng bố không thể bắt đầu khi quốc gia giàu có Arập Xêút tiếp tục ủng hộ các học thuyết cực đoan và tài trợ cho các chiến binh đang gây bất ổn lan tràn và sự sợ hãi cho người Hồi giáo thế tục.
Afghanistan sẽ không bao giờ ngừng là nguồn gốc của các mối lo ngại trừ phi tất cả các cường quốc nước ngoài sẵn sàng tán thành một hiệp định khung cho tương lai của nước này. Đồng thời, Mỹ phải quay trở lại hiện thực của mình sau sự kiện 11-9 với nỗ lực tìm ra những lợi ích chung nhất với Iran tại Afghanistan, chấm dứt chiến lược sai lầm khi liệt quốc gia này vào "trục ma quỷ".
Thứ ba, Mỹ phải hiểu rằng an ninh khu vực cần phải kết hợp với việc áp dụng biện pháp quân sự một cách phù hợp (dù là hạn chế) cùng với ba yếu tố nữa là quản lý nhà nước - tái thiết - phát triển. Mỹ đã có bài học từ cuộc chiến Bosnia năm 1995. Tuy nhiên, các cơ quan hoạch định chính sách của Mỹ vẫn còn đưa ra những chiến lược rất xa rời thực tế, tiền cho các hoạt động phi quân sự không được đầu tư đúng mức và Washington tiếp tục đánh giá cao sự đóng góp của các đồng minh châu Âu đối với chia sẻ an ninh về ngân sách quốc phòng hơn là về những sự trợ giúp để phát triển tiến bộ xã hội cho các quốc gia Trung Đông. Ngoài ra, Mỹ cần phát triển kế hoạch dài hạn về cấu trúc an ninh cho khu vực vùng Vịnh để thay thế các kế hoạch được xây dựng thông qua chiến tranh tại đây từ năm 1979-2003 và xa hơn nữa.
Cuối cùng, cần nhìn nhận Iran trên quan điểm khách quan, toàn diện. Vấn đề đối với Iran không chỉ là vũ khí hạt nhân hay thiếu tính pháp lý về vấn đề này. Sự cạnh tranh khu vực quyết liệt và ảnh hưởng lâu dài của Iran mới là trọng tâm của vấn đề. Và trong ba đời tổng thống Mỹ gần đây nhất, Washington không mấy mong muốn đặt lên bàn đàm phán cơ hội thành công khi xem xét ngang nhau lợi ích của Mỹ, Israel và Iran.
Không một quốc gia nào có thể tiến hành đàm phán nghiêm túc khi phải chịu đe dọa về quân sự, đối mặt với các biện pháp trừng phạt (vốn chỉ giúp củng cố thêm thể chế chính quyền nội bộ của Iran) mà không có những đề xuất nghiêm túc nào từ phía bên kia (Mỹ và các thành viên khác trong nhóm P5+1). Trớ trêu thay, các nước thành viên trong P5+1 chính là các quốc gia có xu thế phản đối ý tưởng đàm phán trực tiếp giữa Mỹ với Iran.