GS.TS Ngô Đức Thịnh: Người truyền cảm hứng và lòng yêu văn hóa dân tộc

Mấy hôm nay nhiều tờ báo đã đưa tin về Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh - một nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp lớn lao trên lĩnh vực văn hóa học, dân tộc học, văn hóa dân gian, một nhà giáo chuẩn mực được nhiều thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh yêu quý, về cõi vĩnh hằng vào ngày 6/6/2020.

Nhiều đồng nghiệp của ông cũng đã hết lời ca ngợi nhân cách, trí tuệ, cùng những công trình nghiên cứu đồ sộ của ông trong suốt gần 60 năm cầm bút, kể từ khi còn là sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Bài viết này, tôi không dám nói thêm về những đóng góp to lớn của giáo sư Ngô Đức Thịnh, đặc biệt về Đạo Mẫu, về sử thi Tây Nguyên, vì tôi đã đọc các bài viết của nhiều người về những công trình này. 

Ở đây tôi chỉ xin viết đôi điều về những gì thầy đã dạy cho tôi trong những ngày được thầy dìu dắt, và những lần được may mắn cùng thầy đi lang thang trên một vài vùng đất ở quê mình.

May mắn vì là học trò của thầy

Tôi có một may mắn lớn của đời mình là được Giáo sư Ngô Đức Thịnh hướng dẫn làm luận án tiến sĩ về Văn hóa dân gian, từ năm 1998. Nhưng quả thật là khi bước vào làm luận án, tôi có nhiều lúng túng. Bởi tôi không được đào tạo từ chuyên ngành Văn hóa dân gian (vì trước đó tôi chỉ được đào tạo chuyên ngành về Văn học Phương Tây và sau về giảng dạy môn này ở Trường Đại học Quy Nhơn). 

Nhưng khi tôi trình bày về những gì mình thu thập được từ dọc biển đảo quê nhà (trong mấy năm chuyển về làm việc ở quê nhà Quảng Ngãi), như vài ghi chép về Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ Cầu ngư, Lễ Đua thuyền trên biển, Hát Bả trạo, Hát Sắc bùa, vài chuyện kể, một số câu ca dân gian ở Cù Lao Ré - Lý Sơn…, thì Giáo sư Ngô Đức Thịnh (lúc đó là Phó Giáo sư, hướng dẫn 1), Giáo sư Nguyễn Chí Bền (lúc đó là Tiến sĩ, hướng dẫn 2), cùng Giáo sư Tô Ngọc Thanh,  Giáo sư Trần Quốc Vượng, Phó Giáo sư Trần Lâm Biền và một vài thầy cô khác ở Viện Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật (nay là Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam) đã khuyến khích tôi viết về những chuyện đó. 

Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh.
Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh.

Giáo sư Ngô Đức Thịnh còn bảo tôi: Đây là luận án tiến sĩ đầu tiên của cả nước về văn hóa biển, nên cần phải cố gắng nhiều; tư liệu về văn hóa biển thì thiếu, nên tăng cường đọc và khảo sát kỹ. Các thầy hướng dẫn và các thầy không trực tiếp hướng dẫn cũng chỉ bảo thêm nhiều điều khác. Đó là một sự may mắn lớn lao của tôi, để đến bây giờ tôi vẫn luôn quan tâm đến văn hóa, lịch sử biển đảo quê nhà, đặc biệt là về lịch sử, văn hóa gắn liền với Đội Hoàng Sa trong nhiều thế kỷ trước.

Nhờ sự may mắn đó mà sau này tôi có thêm một cuốn sách là "Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quảng Ngãi", NXB Văn hóa dân tộc, in năm 2016 (Công trình này được hai lần giải thưởng: Giải A của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (khi còn bản thảo); Giải A Giải Văn học nghệ thuật Phạm Văn Đồng lần thứ nhất, 2019 (khi đã in thành sách).

Một cách nhìn nhận về văn hóa biển của Giáo sư Ngô Đức Thịnh

Khi dạy chúng tôi lẫn khi thầy viết, thầy có nêu quan điểm: "Người Việt không có nguồn gốc biển mà cơ bản là cư dân sống ở vùng trước núi (gồm cả trung du) tràn xuống khai thác đồng bằng chiêm trũng, rồi lấn biển và khai thác biển". Và thầy kết luận: "Người Việt có truyền thống văn hóa biển cận duyên. Đặc trưng cơ bản của truyền thống biển cận duyên là sự kết hợp, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp và hoạt động đánh bắt hải sản. Nói cách khác, việc khai thác hải sản chỉ là một bộ phận trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp truyền thống "…

Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh và Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ (năm 2003).
Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh và Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ (năm 2003).

Khi làm luận án lẫn khi tiếp tục nghiên cứu thêm về đảo Lý Sơn, và nhiều nơi khác ở ven biển, tôi càng thấy điều này là đúng. Dù sống ở đảo, nhưng trong truyền  thống, người Lý Sơn chủ yếu cũng chỉ đánh bắt gần bờ; và dù người Việt đã ra khai phá đảo Lý Sơn từ đầu thế kỷ thứ 17, nhưng cho đến nay, đông đảo người dân Lý Sơn vẫn làm nông nghiệp là chính. 

Một số khác, nếu có quan tâm đến nghề đánh bắt hải sản, thì bộ phận ngư dân đánh bắt hải sản đó vẫn kết hợp với nghề làm hành tỏi ở những khoảnh đất nhỏ hẹp quanh 5 ngọn núi lửa Giếng Tiền, Hòi Sỏi, Hòn Tai, Hòn Vung, hòn Thới Lới. Có lẽ, nhờ hình thái sinh hoạt sản xuất này mà Lý Sơn có nền văn hóa biển đặc trưng, dù vẫn là văn hóa biển cận duyên, nhưng hòa hợp với tự nhiên, với đời sống của cư dân đất đảo.

Sau này, khi tiếp tục nghiên cứu về Đội Hoàng Sa, tôi cũng có viết thêm về việc một bộ phận người Lý Sơn lẫn vùng cửa biển Sa Kỳ có sớm đại dương, ngay từ đầu thế kỷ 17, và cũng nhờ việc sớm ra đại dương đó mà các triều đại phong kiến Việt Nam, từ thời các chúa Nguyễn, đến thời Tây Sơn, thời Nhà Nguyễn mới xác lập được chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Có lẽ trong thành tựu nghiên cứu khoa học của Giáo sư Ngô Đức Thịnh, theo tôi, không chỉ có Đạo Mẫu, Sử thi Tây Nguyên là nổi bật nhất, mà còn thành tựu nghiên cứu về văn hóa biển đảo. Cái cụ thể ở đây có thể thấy, ngoài những bài  thầy viết về văn hóa biển, thì công trình "Văn hóa dân gian làng ven biển" do ông chủ biên, với sự góp sức của các nhà khoa học có uy tín khác, là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, tri thức về biển của cư dân ven biển, đảo Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và là công trình nghiên cứu văn hóa biển đầu tiên ở Việt Nam. 

Rất tiếc, là công trình này mới chỉ dừng lại ở các làng biển phía Bắc, như Trà Cổ, Quan Lạn, Đồ Sơn, Nhượng Bạn, Phương Cần, Cảnh Dương…, mà chưa được bổ sung thêm về các làng biển phía Nam.

"Cái gì thuộc về cộng đồng hãy trả về cho cộng đồng"

Đó là lời khuyên của Giáo sư Ngô Đức Thịnh. Nhờ lời khuyên này mà lứa học trò chúng tôi đã "áp dụng" ngay vào chính Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa từ nhiều năm trước. Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ thức văn hóa tín ngưỡng của các tộc họ trên đảo Lý Sơn và một số nơi khác trong tỉnh Quảng Ngãi có từ thuở xa xưa. Có lẽ có từ khi Đội Hoàng Sa bắt đầu được thành lập vào thời chúa Nguyễn. 

Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, nên lễ thức đó ít khi được tổ chức, nếu có thì chỉ tổ chức nhỏ, phối hợp trong lễ cúng việc lề đầu xuân của một vài tộc họ có những vị Cai đội Hoàng Sa thời Tây Sơn, thời nhà Nguyễn.

Năm 2005, nhờ sự hỗ trợ từ một đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Văn hóa nghệ thuật, chúng tôi đã tổ chức phục dựng lễ thức này. Vào các năm 2008, 2010, 2013, lại được ngành văn hóa tỉnh hỗ trợ phục dựng quy mô lớn, và sau đó Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa được công nhận là di sản phi vật thể quốc gia.

Nhưng dù có được hỗ trợ, thì chủ thể của Lễ Khao lề vẫn là 13 dòng họ tiền hiền lẫn các dòng họ hậu hiền trên đất đảo Lý Sơn. Họ chính là người tự nguyện đứng ra tổ chức lễ thức này hằng năm mà không ai có thể làm thay cho họ, ngay cả chính chúng tôi, là những người đề xuất phục dựng lại lễ thức này.

Lời khuyên trên của thầy không chỉ "áp dụng" cho Lễ Khao lề, mà hình như còn cho tất cả những loại hình văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc, các vùng miền khác. 

Hiện nay, ở đâu đó, khi có một đơn vị, một tổ chức đi làm thay cho cộng đồng về một loại hình văn hóa dân gian, thì ta cũng dễ dàng nhận ra sự sai lệch không đáng có. Thầy từng viết email cho tôi vào những năm 2009  rằng "Ngày nay con người có còn hòa hợp nữa hay không?" khi ông cùng chúng tôi đi dự lễ hiến sinh trâu của người Ca-dong trên huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi) trước đó.

Trong thư ông viết: "Vũ ơi, mình gửi cho Vũ bài này, có lẽ còn viết vội. Thực ra khi dự lễ ăn trâu của người Ca-dong, mình bị choáng ngợp bởi sức sống và sức mạnh của nó và từ đó đến nay mình cứ suy nghĩ mãi. Phải chăng, sức sống và sức mạnh của nó có được là ở bên cột ăn trâu đã diễn ra một cuộc đại hoà hợp giữa con người với thiên nhiên, con người với thần linh và con người với con người, mà trong xã hội cổ truyền con người đã tạo ra được sự hoà hợp tuyệt diệu đó. Và đó cũng là triết lý sống, lẽ sống của họ. Nói điều đó ra cũng là để nói ngày nay con người có còn được sự hoà hợp đó nữa hay không và điều đó cũng để cắt nghĩa sự tha hoá của con người hiện đại".

Kèm theo thư này, ông có gửi cho tôi bài viết có tên gọi là "Triết lý sống bên cột ăn trâu", để tôi in vào cuốn "Sơn Tây - xưa và nay". Giờ đây khi mở lại mail của thầy, đọc mấy dòng thư, kèm theo bài viết ngắn 3 trang, tôi thấy lòng mình trĩu nặng và buồn khôn xiết. Không phải chỉ là nhớ những ngày đó cùng thầy ở Viện Văn hóa nghệ thuật, Viện Văn hóa dân gian, lên tận núi cao với bao nhọc nhằn, mà nghĩ về những điều thầy trăn trở, sẻ chia về sự tha hóa của con người. Trong bài viết, thầy còn đặt ra câu hỏi: "Đã bao giờ chúng ta tự hỏi, con người của xã hội "nguyên thuỷ" đã thiết lập nên mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, đặc biệt là "thiêng hoá tự nhiên để bảo vệ tự nhiên" như vậy sẽ có ý nghĩa như thế nào trong việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại như ngày nay?"...

Cách đây hơn một tuần trước, tôi từ Quảng Ngãi ra Hà Nội đến thăm thầy ở Bệnh viện đa khoa Nông nghiệp ở Thường Tín. Nhìn thầy trên giường bệnh, tôi có linh cảm thầy sắp đi xa. Lại nhớ không chỉ một lần đi Sơn Tây (Quảng Ngãi), hai lần thầy đi Lý Sơn quanh hết làng hết xóm, vài lần đi Sa Huỳnh và dọc biển, một lần đi thăm mộ Ân công hầu Trần Công Hiến ở Bình Dương (Bình Sơn) với bao kỷ niệm cùng những tâm huyết thầy vẫn dành cho văn hóa dân tộc... 

Với nhiều thế hệ chúng tôi, GS.TS. Ngô Đức Thịnh là một nhà nghiên cứu văn hóa có tầm vóc, trên nền tảng của một nhà dân tộc học. Ông từng có nhiều năm công tác ở Viện Dân tộc học, bởi vậy, những công trình nghiên cứu của ông khó bóc tách đâu là dân tộc học, đâu là văn hóa dân gian. 

Vả chăng, ranh giới giữa hai ngành khoa học này cũng mỏng manh. Có lẽ với gốc nguồn và bối cảnh như thế nên mặc dù GS.TS. Ngô Đức Thịnh có cống hiến lớn trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, đặc biệt trong những năm tháng ông là Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian (1994-2004), và khi nghỉ hưu, là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam - một tổ chức NGO, song chúng tôi vẫn luôn nhận ông là người của dân tộc học. 

Với dân tộc học Việt Nam, nếu tính từ GS.TS. Nguyễn Văn Huyên, người có công khai mở cho ngành khoa học này, GS.TS. Ngô Đức Thịnh được coi là thuộc thế hệ thứ ba, sau những tên tuổi lớn của thế hệ thứ hai, như các nhà Dân tộc học Nguyễn Từ Chi, Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật, Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Diệp Đình Hoa, Mạc Đường…

Giờ thầy đã thật sự đi xa rồi, nhưng niềm cảm hứng và lòng yêu văn hóa dân tộc mà thầy đã truyền dạy thì bền vững trong các thế hệ học trò chúng tôi. Mong thầy thanh thản về phía bên kia cùng thế giới của những người hiền. Tôi luôn tin rằng, những gì thầy đã cống hiến cho văn hóa dân tộc, những gì thầy đã truyền dạy cho các thế hệ học trò chúng tôi, vẫn là những bài học để đời. 

Chúng tôi, những người cũng theo chân thầy luôn tin rằng, những điều thầy để lại vẫn luôn còn mãi trong những trang sách và trong tâm khảm của mỗi người đã trót lòng đam mê văn hóa dân tộc Việt Nam.

TS. Nguyễn Đăng Vũ

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.