Dòng chảy lịch sử 1.300 năm trong bảo tàng dưới lòng đất

Thực hiện nhiệm vụ khai quật khảo cổ học cho đến nghiên cứu giá trị hoàng thành Thăng Long từ năm 2002, PGS.TS. Bùi Minh Trí – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành là một trong những người rất gắn bó với khu di tích Hoàng thành.

Ông cho rằng cuộc đời mình có 2 may mắn mà không phải nhà khoa học nào cũng có được, đó là được tham gia làm chủ nhiệm dự án khai quật di tích khảo cổ Hoàng thành, chủ nhiệm dự án nghiên cứu giá trị Hoàng thành và sau đó là tổ chức trưng bày những phát hiện khảo cổ học dưới hầm nhà Quốc hội. Khu trưng bày dưới hầm nhà Quốc hội đã quy tụ được độ “chín” của rất nhiều yếu tố.

Nhà khoa học nào cũng mơ ước có một công trình xứng tầm để “thi thố” tài năng, nhưng đứng trước một công trình có tầm vóc quá lớn như Hoàng thành Thăng Long, người ta dễ bị khớp.

Ảnh Thiện Hoàng
Ảnh Thiện Hoàng

“Ngay việc đánh giá giá trị Hoàng thành Thăng Long cũng rất khó. Trước 2008, đã có rất nhiều tranh luận về Hoàng thành: bảo tồn thế nào, có giữ lại là di sản văn hóa thế giới hay không? Cuối cùng, với công sức nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng ta trình UNESCO công nhận Hoàng thành là di sản thế giới. Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, chúng tôi cũng được giao nhiệm vụ tổ chức trưng bày quảng bá Hoàng thành.

Khu trưng bày Thăng Long - Hà Nội, lịch sử ngàn năm từ lòng đất năm 2010. Được thử sức với cuộc trưng bày hàng triệu người xem này đã giúp chúng tôi có cuộc “tập dượt” và để người dân hiểu được giá trị của Hoàng thành khó khăn đến cỡ nào” – PGS Bùi Minh Trí nhớ lại.

Nếu bước sang 18 Hoàng Diệu bây giờ, những gì mọi người thấy được là một sự ngổn ngang trên công trường, rất khó hình dung hiện trường đó bao hàm bao nhiêu giá trị lịch sử, văn hóa.

Năm 2010, những người làm trưng bày đã tiếp hàng triệu lượt khách đến tham quan khu di tích Hoàng Thành và đã sử dụng mọi vật dụng, cách nói, thậm chí mang cả những ký họa ra phát để mọi người hiểu được, nhưng... thất bại.

Khảo cổ học là một ngành khoa học rất đặc thù, chỉ là một phần còn lại của lịch sử, rất khô khan, trừu tượng. Chỉ một mảnh sứ, hay vết tích kiến trúc còn lại cũng chỉ là những ô vuông móng trụ chân cột... làm sao để quảng bá đến công chúng giá trị riêng có, đặc biệt, tầm quan trọng của Hoàng Thành là một bài toán cực kỳ khó.

“Khi tôi được tiếp nhận, một trong những ý tưởng đầu tiên mà tôi theo đuổi là phải tìm ra giải pháp trưng bày để mang giá trị khoa học đến gần với công chúng hơn, cho mọi người cảm nhận một cách tự nhiên, chân thật nhất, chứ không định xây dựng một “đền đài” khoa học, mang hiểu biết của mình bắt người ta phải hiểu.

Cuộc trưng bày này chúng tôi nhã ý muốn mọi người tự hành trình khám phá những phát hiện khảo cổ học, tự đưa ra những nhận thức, đánh giá của riêng mình, chỉ gợi mở chứ không định hướng, áp đặt. Điều quan trọng là phải tìm ra được ý tưởng và giải pháp trưng bày.

Nếu nói về nội dung khoa học trưng bày, chúng tôi đã có một nền tảng rất vững chắc nhờ việc nghiên cứu Hoàng thành hơn 10 năm (từ 2002 – 2012), qua việc viết hồ sơ khoa học trình UNESCO – mà tôi là người chắp bút, qua nghiên cứu so sánh với các di sản nổi tiếng châu Á như Cố cung (Bắc Kinh, Trung Quốc), cung điện Nara (Nhật Bản)... nhưng cách thức thể hiện là một điều phải tư duy rất kỹ càng.

Để thực hiện được công trình này, ngoài năng lực chuyên môn khoa học còn đòi hỏi tính sáng tạo rất cao. Bảo tàng học là một sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà khoa học cũng như các nhà thiết kế, chứ không phải một việc thủ công, anh cứ xếp hiện vật vào đó”.

PGS Bùi Minh Trí cho rằng: Giá trị nổi bật toàn cầu của Hoàng Thành là nơi giao thoa, hội tụ, lan tỏa sức sống của một trung tâm quyền lực trong dòng chảy lịch sử. “Nhà Quốc hội là biểu trưng cho quyền lực của quốc gia, cho ý chí, sức mạnh của nhân dân, là trung tâm quyền lực của đất nước trong thời kỳ đổi mới, nằm phía Tây Nam cấm thành Thăng Long.

Cuộc trưng bày này phải làm sao để tiếp nối truyền thống, tạo nên một dấu ấn trong dòng chảy lịch sử 1.300 năm ấy. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt về mặt ý tưởng. Muốn làm được, ta phải đặt nhà Quốc hội – vốn nằm trong trung tâm chính trị Ba Đình, nằm trong không gian trung tâm quyền lực của Thăng Long - Hà Nội xưa.

Vì vậy, chúng tôi đưa ra ý tưởng trưng bày theo lát cắt thời gian, biến khu trưng bày thành 2 không gian riêng biệt: Tầng dưới là thời tiền Thăng Long, tầng trên là Thăng Long với điểm mấu chốt là thời Lý – thời kỳ lan tỏa sức sống mãnh liệt của văn hóa. Khu tầng hầm nhà Quốc hội là trưng bày lồng ghép, xen cài giữa di tích và di vật” – PGS Bùi Minh Trí chia sẻ.

Khu vực trưng bày đã được sử dụng nhiều công nghệ chưa từng có ở Việt Nam, thậm chí trên thế giới, nhưng theo PGS Bùi Minh Trí, những ý tưởng sáng tạo trong ứng dụng công nghệ đặc sắc hơn là bản thân công nghệ.

“Di tích là hồn cốt của trưng bày, các hiện vật là các điểm nhấn của các không gian. Chúng tôi muốn khách tham quan bước vào sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, vì trưng bày có những kịch bản và những điểm nhấn khác nhau. Công nghệ sử dụng ở đây chỉ mang tính chất làm sống động những nội dung khoa học trưng bày, hỗ trợ, thổi hồn cho nội dung khoa học trưng bày. Công nghệ chúng tôi sử dụng cũng là máy chiếu, đèn chiếu sáng, âm thanh... nhưng sử dụng loại công nghệ thiết bị nào là cả một vấn đề tốn tâm sức hơn nhiều”, PGS Bùi Minh Trí tâm sự.

Các nhà khoa học cũng đã dày công tìm những phương pháp ứng dụng công nghệ hiệu quả nhất, như chiếu trên tường tối thay vì nền trắng. Phương pháp này tạo nên hiệu quả cực kỳ cao, tạo nên sự sâu hút trong trình chiếu và tạo ra một không gian hoài cổ.

Ý đồ của các nhà khoa học là tạo ra điểm nhấn như ngôi sao trên sân khấu, mỗi khoảnh khắc là sự tỏa sáng của một đối tượng trưng bày, giúp người xem không bị phân tâm.

Có những điểm sáng tạo rất táo bạo đã được áp dụng là dùng vách ngăn kính ngăn cách không gian, nâng mặt bằng ở những độ cao, độ dốc khác nhau, hay việc đi trên kính giúp người ta có cảm giác trải nghiệm lịch sử như thật.

Ngay từ thời Lý, ông cha ta đã có những phát minh kỳ tài như biện pháp chống lún cột bằng hệ thống móng trụ sỏi. Kể cả tường bao cũng có những móng này. Nhưng những gì khai quật được chỉ là chân trụ móng, nếu chỉ bê nguyên ra thì cuộc trưng bày không mang nhiều giá trị. Các nhà khoa học đã nung nấu tìm giải pháp để tái hiện được tầm vóc của công trình mà không phải làm giả.

“Có người đưa ý tưởng là dựng luôn cái cột lên trụ móng. Quá dễ, nhưng là phục dựng, là giả, không có độ tin cậy cao. Chúng tôi muốn tôn trọng tuyệt đối những giá trị được phát hiện, nhưng vẫn phải có giải pháp để người xem hình dung thế nào là cung điện nhà Lý, bao gồm cả kỹ thuật xây dựng và hình thái kiến trúc.

Chúng tôi đã bay sang Đức, làm việc với hãng chuyên thiết kế, sản xuất các loại đèn trình chiếu cho trưng bày để đặt họ loại đèn cột ánh sáng. Họ nói không làm được và đưa ra một số hình mẫu thay thế bằng ống thủy tinh hoặc cột nước rồi chiếu ánh sáng qua. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không hài lòng với ý tưởng này.

Suy nghĩ mãi, cuối cùng mới tìm ra cách tái dựng cột ánh sáng mà mọi người thấy trong bảo tàng ngày nay. Chúng tôi cũng ứng dụng một công nghệ rất đột phá là công nghệ chiếu maping trong trưng bày. Đây cũng là điểm cho thấy bản lĩnh của các nhà khoa học Việt Nam trong ứng dụng công nghệ”.

Táo bạo hơn, các nhà khoa học còn tái hiện cây cối và tiếng chim hót trong cung cấm, tạo nên sức sống cho không gian trưng bày. Sử đã ghi nhận trong Hoàng cung có đào ao thả cá, nuôi chim quý và trồng các loại kỳ hoa, dị thảo. Nhà trưng bày muốn tái hiện lại tất cả không gian đó để mọi người hình dung ra vẻ đẹp trong hoàng cung.

“Chính tôi cũng chưa bao giờ thấy bảo tàng nào đưa tiếng chim hót vào hoàng cung, nhưng chúng tôi rất may mắn tìm ra cái cóng cho chim ăn, từ đó liên tưởng đến thú chơi chim ở hoàng cung và đưa ra kịch bản tiếng chim hót. Tiếng chim đó mang lại sức sống cho toàn bộ hoàng cung, nó không còn là những di vật khô khan nữa, mà nó là một không gian sống” –PGS Bùi Minh Trí chia sẻ. 

Dù cho rằng kết quả thể hiện ra chỉ đạt 85% – 90% những gì ông có thể vẽ ra bằng ý tưởng, do những hạn chế về nguồn lực và công nghệ, nhưng PGS Bùi Minh Trí không giấu nổi sự tự hào về công trình này.

Vượt qua tất cả những những nghi ngờ lúc ban đầu, vì đây là công trình trưng bày chưa có tiền lệ, mà lại được giao cho một đơn vị khoa học khảo cổ không có nhiều kinh nghiệm về bảo tàng, những người thực hiện công trình đã chứng minh được thành quả của sự lao động nghiêm túc và tâm huyết.

Cuộc trưng bày đã tiếp hơn 90.000 người tham quan, nhận được những sự đánh giá rất tốt từ cả khách trong nước và quốc tế, là một trong những niềm tự hào của công trình Nhà Quốc hội.

“Chúng tôi chỉ mong người xem có thể tự hào về di sản văn hóa dân tộc Việt Nam, có thể tự hào về vẻ đẹp, sự tráng lệ trong hoàng cung Thăng Long xưa, tự hào về tài năng của ông cha chúng ta - không thua kém bất cứ một nước nào trên thế giới. Tôi muốn nhìn thấy vẻ tự hào của những người tham quan khu trưng bày. Đấy là điều hạnh phúc nhất trong cuộc đời khoa học của tôi, dù mọi người có thể không thấy những nhọc nhằn của nhà nghiên cứu đằng sau đó” – PGS Bùi Minh Trí bày tỏ.

Vũ Hân

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.