Lấy chồng Tây, sang Pháp từ năm 1956, từ thân phận một phụ nữ da vàng đơn độc tủi phận nơi xứ lạ, bà đã phấn đấu để được gia đình nhà chồng thay đổi cách nhìn, chấp nhận và nể phục, để được chồng bà và các con yêu quí, trân trọng. Hòa nhập, nhưng Joséphine Nhung vẫn giữ được cốt cách của một phụ nữ truyền thống, coi trọng chữ tình, chữ nghĩa. Xã hội thì khác nhau, nhưng những giá trị nhân bản thì ở đâu cũng vậy. Xin giới thiệu cùng quí vị câu chuyện của Joséphine Nhung.
Chìm nổi hồng nhan
“Ba tôi sinh ra trong một gia đình có tiếng tăm. Được ăn học có bằng cấp tú tài, lại giỏi tiếng Pháp, ba làm sếp ga ở Nghệ An. Tôi được ba cưng chiều lắm, vì tôi giống mẹ. Đang sống trong êm ấm thì năm 1937, khi tôi sáu tuổi, ba tôi mất vì bị ho lao. Mẹ tôi bị ông nội đuổi ra khỏi nhà, có lẽ vì cuộc hôn nhân này không môn đăng hộ đối và đã bị đằng nội phản ứng từ trước. Mẹ tôi đẹp nhưng mồ côi từ nhỏ, lại chỉ là người chạy chợ nhì nhằng. Anh em tôi không đành lòng ở lại, nên đã trốn theo mẹ. Chúng tôi về Ninh Bình, ở nhà ông bà ngoại nuôi– nhận nuôi mẹ tôi từ nhỏ.
Sáu năm sau, mẹ tôi đi bước nữa, với một ông Tham – một người đàn ông góa vợ mà mẹ chưa biết rõ, chưa biết cả quê quán của ông ấy. Chỉ vì cha dượng dỗ dành mẹ, là ông sẽ thương anh em tôi như con ruột. Thế rồi mẹ sinh em trai và lại có bầu. Lúc đó quân Nhật đã chiếm đóng một số vùng ở Trung Quốc, nghe nói chúng sẽ tràn sang Việt
Thời gian ấy lính Nhật tràn vào Việt
Năm 1947, cha dượng của tôi phải chuyển công việc về Bắc Ninh, khi mẹ tôi đang mang bầu. Ông bắt mẹ con tôi phải về quê ông sơ tán, còn anh trai tôi phải theo ông đi làm. Thế là bắt đầu chuỗi ngày khổ ải ở xóm nghèo chợ Trôi vùng Đan Phượng, quê của cha ghẻ tôi.
Bà nội ghẻ đón mấy mẹ con tôi bằng ánh nhìn lạnh lùng khinh miệt: “Về quê là phải bỏ cái áo dài đi, ra đồng mà làm, không ai nuôi báo cô cái giống thành phố các người đâu đấy”. Từ đó, tôi phải thay mẹ dậy từ tờ mờ sáng, ra đồng nhổ cỏ, cắt rạ, cuốc đất, xay lúa. Sợ đỉa, sợ giun, nhưng tôi vẫn phải học đan vó te, móc giun vào làm mồi cùng bột gạo rang, để đặt vó kiếm thêm tôm cá.
Một đứa trẻ sinh ra ở thành phố phải cắn răng làm đến phồng rộp cả tay, cả vai. Khổ tôi không sợ, đau nhất là những lời nói đay nghiến, móc máy của bà nội ghẻ. Bà ấy ác đến mức không mời bà đỡ, cũng không cho mẹ tôi sinh em bé trong nhà. Thế là, dù rất sợ máu, tôi vẫn phải gắng sức giúp mẹ sinh em, cắt rốn và tắm rửa cho em trong nhà bếp.
Thương mẹ đói và em khát sữa, tôi đấu tranh với bà ghẻ để được ra chợ buôn bán kiếm tiền, tối về thì xay lúa bù cho bà già, để bà đỡ hậm hực. Đã là năm 1948, lính đồn thường về làng đốt phá, bắt bớ tra khảo, mỗi khi bị du kích đánh đồn. Đạn moọc-chê vun vút bay trên đầu, tàu bay cũng bỏ bom nhiều nơi. Đứa con riêng của bố dượng tôi bị gãy chân, tôi phải đưa nó đi viện tận Phú Thọ, rồi bệnh viện bị cháy và nó chết.
Bà nội ghẻ tức giận đuổi tôi đi, rồi lại gọi tôi về để lên đồn làm phu thay cho cả nhà. Ngày đó, tôi 17 tuổi, làm lụng vất vả nhưng tôi phổng phao, xinh đẹp hơn chị em trong làng. Thằng Tây đồn trưởng nhìn tôi cuốc đất trước đồn, nó thích tôi nên gọi tôi lên đòi lấy. Nó là kẻ cướp nước, đi đốt phá xóm làng, làm sao tôi lấy nó được. Tôi thẳng thừng từ chối, nó gọi bác phó làng tới, dọa sẽ đốt làng.
Cả đám phu làng lo sợ, đến nài ép mẹ tôi. Tôi đau xót viết thư để lại cho anh trai: “Anh Hùng ơi, giờ này anh ở đâu? Đứa em gái mà anh nâng niu sắp phải vào trong tay kẻ thù. Em muốn chết đi, nhưng trước khi chết, em phải cứu xóm làng nơi mẹ và các em trú ngụ. Anh trở về thì nhớ đưa xác em về quê cha đất tổ anh nhé…”.
Đêm đầu tiên phải vào đồn, tôi từ chối gặp thằng Tây, lấy cớ là mệt, hẹn đến ngày mai sẽ là người của nó. Tôi viết thư cho mẹ, quyết định chết trong đêm ấy. May cho tôi là du kích đánh đồn, thằng Tây bị thương nặng. Nhưng cũng vì thế, tôi bị tình nghi là nội gián của Việt Minh, bị giam 5 tháng, bị đánh đập, tra tấn bằng điện không ai dám đến thăm.
Cũng còn may là tôi quen được với hai chị bạn. Không chịu được đòn roi, họ buộc phải nhận làm vợ hờ của lính đồn, nhưng họ thương Nhung lắm, nên bày đủ mưu cách để bảo vệ tôi khỏi lũ lính quỷ dữ. Giam cầm chán, chẳng khai thác được gì, mấy chị em chúng tôi bị đuổi ra khỏi vùng cai trị của đồn Tây, chúng dọa bắn những ai cưu mang chúng tôi. Không dám quay về làng tìm mẹ và các em, tôi và mấy tù nhân vượt rừng tìm nơi lánh nạn.
Đến một vùng núi non hiểm trở, bị hỏi giấy tờ, chúng tôi khai, mới bị tù ở đồn Tây nên không có giấy tờ bảo đảm. Thời giặc giã, không ai tin chúng tôi cả, họ nghi chúng tôi là tay sai của giặc, Thế là cả nhóm bị giam lỏng ở vùng đó một năm. Không bị đánh đập, nhưng tôi sợ cái nhìn im lặng, sự nghi hoặc lạnh lùng xung quanh mình. Có lần ba chị em ra đồng nhổ cỏ cuốc đất, mấy bà nông dân xô lại chửi tôi là con đĩ, là đồ bán nước hại dân không đáng sống.
Số phận đối với tôi thật trớ trêu! Tôi ốm liên miên vì không chịu được sự căng thẳng kéo dài. Ngày ấy có một bác sĩ Việt Minh thương và yêu tôi lắm. Nghe nói anh ấy học ở Pháp về, con nhà dòng dõi. E dè mãi, rồi anh mới dám ngỏ lời với tôi bằng những bài thơ. Tình yêu của anh đã vực tôi dậy.
Tôi mê say từng lời nói, dáng điệu của anh. Anh ân cần, tế nhị và lãng mạn, không như ông trưởng trạm già đã có vợ con mà vẫn tìm mọi cách ve vãn tôi. Biết chúng tôi yêu nhau, ông ta đẩy người yêu tôi đi công tác xa. Khi anh vướng hầm chông, bị thương nặng rồi hy sinh, ông trạm trưởng bảo tôi là lũ hôi tanh không được dự đám tang liệt sĩ. Năm 1951, chúng tôi được phép tự do về quê.
Rời vùng căn cứ Tam Sanh ấy, tôi mang theo lời tâm sự của người yêu trước chuyến đi công tác định mệnh: “Nếu một ngày anh phải lên cung trăng, không xuống trái đất được, thì em phải yêu người khác nhé, anh không muốn em cô đơn một mình.” Mãi mãi, tôi không quên được anh – mối tình đầu đau đớn mà ngọt ngào của tôi.
Xứ người… dâu Việt
Tôi gặp anh Jacques (Giắc) cuối năm 1954, sau khi biết tin anh trai mình đã chết và tôi quyết định vào Sài Gòn theo bố mẹ nuôi vì mẹ tôi còn phải lo cho gia đình riêng của bà. Không còn gì níu kéo, tôi muốn ra đi để quên quá khứ. Giắc tình cờ gặp tôi ở một quán cà phê, gần hiệu kem nơi tôi làm thuê. Ngày nào Giắc cũng đến, ánh mắt nhìn tôi có vẻ tha thiết, nhưng tôi lảng tránh vì tôi nghĩ, anh ta là người Pháp, Pháp đánh người Việt
Chủ quán bảo Giắc, tôi là con nhà lành, không phải gái bán bar, nhưng anh vẫn cứ đến. Rồi Giắc tìm gặp bố nuôi tôi và thổ lộ là anh yêu thật tình. Tìm hiểu kỹ, bố nuôi biết anh là người đứng đắn, là con nhà gia giáo, chịu khó học hành. Ông khuyên tôi, nếu yêu Giắc thì hãy lấy, chứ vì buồn đau, lấy chồng để có chỗ nương tựa thì không nên.
Tôi nhận lời cầu hôn của Giắc với một sự giãi bày: Tôi không còn là con gái, tôi đã yêu một người rất tha thiết và tôi không thể quên quá khứ của tôi. Giắc chấp nhận vì anh yêu tôi. Điều này khiến tôi cảm động. Với tôi, một đứa con gái bơ vơ, tiền bạc chữ nghĩa không có, gia đình gốc rễ coi như không còn, gặp được người thương mình thật lòng, thế đã là may mắn.
Chấp nhận thay tên đổi họ theo gia đình bố nuôi – người Việt quốc tịch Pháp, để có thể làm thủ tục kết hôn với Giắc, tôi cũng phải đấu tranh tư tưởng ghê gớm lắm. Vào Sài Gòn, tôi lại một phen khốn khổ vì họ hàng nhà bố nuôi. Họ muốn tôi từ chối Giắc để lấy một phi công Việt đẹp trai, con nhà giàu và ham chơi. Nhưng tôi chọn Giắc vì anh thật lòng, chọn mà vẫn băn khoăn, không biết cái gì chờ đợi phía trước, khi mình xa quê hương về Pháp làm dâu. Chúng tôi cưới nhau ở Sài Gòn, tôi sang Lào theo chồng, về lại Sài Gòn, rồi trở về quê chồng năm 1956.
Tôi còn nhớ dịp đó là tháng 5, tháng 6. Vào một ngày âm u, tôi đến La Rochelle, một tỉnh nằm cách Pari tới 600km, với cái bụng bầu và vốn tiếng Pháp bồi chỉ tạm nói - nghe loáng thoáng. Nhà anh Giắc đón vợ chồng tôi lịch sự, nhưng không mặn nồng.
May mà quãng đời lang thang làm thuê cho những nhà giàu ở Việt Nam đã giúp tôi hiểu được cuộc sống văn minh, biết ăn cơm Tây, biết đặt bàn theo kiểu châu Âu.., nên gia đình anh cũng không nỡ khinh rẻ tôi. Để hòa nhập, tôi cố gắng lăn vào bếp, phụ giúp mẹ chồng nấu nướng, giặt giũ. Học theo nếp của gia đình, tôi cố gắng lau chùi nhà cửa sạch sẽ, sắp xếp quần áo từng loại ngăn nắp ở từng ô.
Tôi không muốn bị chê là quê mùa. Lúc đầu gia đình chồng tưởng tôi không biết tiếng Pháp, nên thường bình luận về những người da màu. Sự kỳ thị đó làm tôi đau đớn, bởi vì tôi là người da vàng. Thế là tôi cố gắng học thêm tiếng Pháp để biết đọc và nói tốt hơn. Nhiều lúc buồn, tôi chỉ biết vuốt ve, nói chuyện với đứa con trong bụng, hoặc sang thăm bà ngoại anh Giắc.
Bà sống một mình bên bờ biển, nhà có vườn cây ăn quả, lại thường ra biển bắt cua bắt ốc, thích lắm. Bà yêu quí tôi và Giắc, bà cảm ơn tôi vì yêu Giắc đã phải hy sinh, rời bỏ quê hương đến quê chồng. Bà kể cho tôi về sự gia trưởng của bố anh Giắc, về sự thiệt thòi của anh trong gia đình. Có bà, tôi đã vơi bớt sự mặc cảm về thân phận mũi tẹt da vàng của mình.
Khi tôi sinh cháu đầu lòng, con khóc, sữa chảy ròng ròng mà không được cho con bú, vì ở Tây họ cho con bú theo giờ. Thế là con khóc, mẹ cũng khóc theo.
Mẹ chồng sợ tôi bẩn, lấy chậu nước nóng, bắt tôi rửa ty, dùng gạc lau sạch, rồi mới bày cho tôi cách cho con bú. Sau này được ra ở riêng, tôi thấy nhẹ cả người, dù ở riêng cũng chỉ là ở nhờ bà ngoại. Mỗi tháng, tôi cố dành riêng một khoản tiền biếu bà. Bố chồng tôi bảo không cần làm thế, nhưng tôi cứ đưa, tôi thầm nghĩ, coi như tiền thuê nhà. Cụ ông bực lắm, cụ mắng tôi là cứng đầu, cứng cổ. Bố chồng tôi rất khó tính. Muốn sơn lại cái nhà, thì cụ bảo, đây không phải nhà mày, muốn làm gì phải theo ý tao.
Treo một cái ảnh quê nhà, thì cụ bảo mày làm như thế không đẹp. Tôi không cãi, cũng không dám trách bố chồng, chỉ lẳng lặng bóc tranh ra, cất vào cuốn sổ, để ngắm nhìn những lúc nhớ nhà. Mấy năm đầu mới làm dâu, làm gì cụ cũng bắt bẻ, xét nét. Pha cà phê mời cụ, cụ bảo, mày làm kiểu này không tốt. Tuy tự ái, nhưng tôi vẫn cố giữ lễ nghĩa.
Tôi chủ động tìm hiểu ngày sinh nhật, ngày cưới của bố mẹ chồng, rồi rủ các em chồng cùng tổ chức. Họ không đóng góp, tôi vẫn cứ làm, vì tôi muốn thể hiện tình cảm trân trọng bố mẹ. Lúc tôi ra ở riêng, bố chồng thích sang nhà tôi lắm, vì tôi chiều cụ, không sợ bẩn nhà, không bắt cụ phải xỏ giầy vào bao nỉ đi trong nhà như những cô con dâu khác.
Mấy cô em bảo tôi là hèn, sợ bố chồng theo kiểu nô dịch. Tôi nghĩ, bắt bẻ làm gì, người Việt ta thường kính già, nhường trẻ. Sau này các con tôi đi học xa, tôi dặn chúng ngày lễ Noen phải nhớ gửi thiếp về chúc ông bà, mà phải viết cẩn thận, không được sai lỗi ngữ pháp là ông bà cười mẹ không biết dạy con.
Mãi hơn hai chục năm sau, trước khi bố chồng lên bàn mổ, tôi hỏi cụ: Sao con làm việc gì, bố cũng nói là không đúng, sao bố ghét con đến thế? Cụ ông bật khóc: “Bố muốn thử lòng kiên nhẫn của con, nhưng tại sao con không bao giờ cãi bố?”. Lúc ấy, tôi quên hết nỗi ấm ức trong lòng: “Nếu con cãi bố, tức là con không tôn trọng bố, không báo đáp được cho bố. Con cứ nghĩ bố cũng như cha con vậy, mà con mất cha từ khi còn nhỏ”. Bố chồng khen tôi trẻ mà biết nghĩ…
Hóa ra, bạn ông có một cô con dâu người Việt rất đanh đá và không nền nếp, các cụ dặn nhau phải coi chừng con dâu Việt. Sự kiên nhẫn và cố gắng của tôi cuối cùng cũng được gia đình nhà chồng hiểu ra. Trước khi mất, bố chồng cho tôi một kỷ vật truyền lại từ người chị gái mà ông coi như mẹ, vì ông cũng mất cha mẹ từ sớm. Mẹ chồng tôi trước khi vào trại dưỡng lão, cầm tay hai vợ chồng tôi và nói với anh Giắc: “Con phải thương vợ vì nó là người vợ tốt, là đứa con hiếu thảo”.
Thu phục tình cảm bố mẹ chồng đã khó, giữ chồng và dạy con còn khó hơn. Chồng tôi về Pháp thì giải ngũ và đi học Trường Hành chính ở Pari suốt 5 năm. Lương trung sĩ của anh ấy rất thấp, một nửa anh đem theo để chi tiêu, một nửa dành cho mấy mẹ con tôi. Hồi đó tôi đẻ liên tục, 6 đứa tất cả, với người Pháp như thế là quá nhiều con. Tiền chi tiêu quá ít, tôi phải tằn tiện từng thứ một.
Quần áo các con, tôi mua vải hạ giá về tự may. Mảnh vườn nhà bà ngoại anh Giắc, tôi trồng đủ thứ rau để ăn cho đỡ tốn. Làm việc cật lực lo cho lũ trẻ, hai đứa sinh đôi đánh nhau suốt ngày. Lại thêm áp lực tinh thần từ nhà chồng: lúc đầu họ coi tôi là con bé man-di nhà quê ít học, mà gia đình họ vốn thuộc hàng dòng dõi.
Cụ nội anh Giắc đã từng được nhận Huân chương của Hoàng đế Napoléon, các ông của anh đều là giáo sư. Anh Giắc thì xa nhà suốt, tiền ít nên chẳng dám đi, về nhiều. Đã có lúc tôi tưởng mình quị xuống, tôi ốm rộc rạc, chỉ còn 40 cân. Ốm, nhờ chồng đưa đi khám, nhưng anh ấy bận học, lại nhờ cô em. Cô đơn, mệt mỏi đến cùng cực, nhưng rồi tôi xác định, phải chấp nhận, phải chịu đựng và tự mình vươn lên. Không kiếm được tiền thì mình cố nuôi dạy con cho tốt.
Khi con chập chững biết đi, tôi dạy các cháu ăn chừng nào lấy vào đĩa chừng đó, nếu lấy thừa thì tối hấp lại cho con ăn, vì nhà mình không giàu. Đến bữa, nếu con không chịu ăn thì thôi, sau đó nó có đòi cũng không cho ăn, để rèn con phải ăn đúng bữa. Bài học của mẹ chồng từ thời cho con bú, bây giờ tôi thấy đúng. Phải nắn con vào nếp, ngay từ việc nhỏ là xếp giày vào giá, sau khi đi học về.
Hai đứa sinh đôi nhà tôi cứng đầu lắm, biết chúng thích đi chơi, khi nào chúng mắc lỗi, tôi bắt phải xin lỗi bằng được, phải làm việc chuộc lỗi, tôi mới cho đi chơi. Nghỉ hè, các cháu phải thay phiên nhau giúp mẹ việc nhà, làm tốt sẽ có thưởng. Ngay cả việc tặng quà Noen cho các con, bây giờ thêm các cháu nữa, tôi cũng phải cố công bằng, tất cả như nhau.
Con gái áp út của tôi, dù không nói được tiếng Việt, nhưng cháu rất hiểu đạo lý, lễ nghĩa của người Việt. Nhà tôi cũng có bàn thờ gia tiên, thờ Phật bà Quan âm. Ngày nghỉ, tôi nấu món ăn Việt. Lúc đầu tôi không dám nấu nước mắm, sau thấy lũ trẻ khen, tôi cho chúng ăn tất, nào nem, phở, thịt - cá kho kiểu Việt, ăn cả trứng hấp lá mơ. Ăn quen rồi, các cháu hỏi cách làm và tự nấu. Tôi mừng vì các con, các cháu đều phục tài nấu ăn và truyền thống lễ nghĩa của mẹ, của bà. Chúng bảo nhau, lên xe mà không nhường người già yếu, đi đường gặp người tàn tật mà cười là chết với bà Nhung.
Ngày anh Giắc đi học 5 năm ở Pari, ít về vì không có tiền đi lại nhiều. Cũng có người hỏi tôi: Nhung không sợ chồng bị các cô người Pháp trẻ đẹp, có học “bắt mất chồng” à? Đến khi bạn bè anh Giắc về chơi, gặp tôi và các cháu, thấy chúng nó ngoan, học giỏi, nhà cửa ngăn nắp, họ nói: “Có người vợ thế này, thì Giắc không nhìn đến ai là đúng rồi!”.
Tôi phải tự học hỏi nhiều lắm. Anh Giắc là người có chí, làm việc mẫn cán. Khi anh được thăng chức lên thị trưởng một vùng (gồm mấy tỉnh), lần đầu phải tiếp phu nhân ông bộ trưởng, tôi sợ lắm. Phải mua sách đọc để hiểu các nghi lễ của họ. Ví dụ, phải hỏi nhỏ người phục vụ xem vợ ông lớn mặc trang phục gì, theo phép lịch sự là mình không được mặc đẹp hơn.
Hoặc nếu họ mời tiệc, mình phải mua hoa, gửi kèm các vidit tặng trước…Dần dà, tôi cũng vững tin hơn, tự đứng ra tổ chức được những bữa tiệc gia đình, mời các quan khách. Anh Giắc là tiến sĩ, là thị trưởng, nhưng chưa bao giờ anh ấy phải xấu hổ vì người vợ Việt
Đã qua rồi những ngày tháng khó khăn, cũng may là tôi không phải đi kiếm tiền, thì mới có thời gian nuôi dạy các cháu như thế. Tôi vẫn dạy các con: xã hội nào thì đàn ông cũng phải lo việc lớn, dạy con là việc của phụ nữ. Gần 60 năm sống ở Pháp, tôi đã học được những nếp văn hóa tốt đẹp của quê chồng. Tôi ngưỡng mộ trật tự và luật lệ của người Pháp.
Ví dụ, khi ông Sarkozi đang là Tổng thống Pháp, mà con ông ấy đi xe sai luật vẫn phải gặp cảnh sát để nhận lỗi. Thế nhưng, tôi vẫn là tôi, một cô gái Việt từ nghèo khó, thất học, mà vươn lên bắt rễ vào cuộc sống xứ người, rồi đơm hoa kết trái trên đất lạ. Các con tôi ví von rằng, mẹ đã xây dựng cho chúng con một bảng giá trị tốt, giống như một phần mềm tốt cho máy tính vậy.
Ấy là các con yêu quý mẹ mà nói như vậy, chứ cái gì tốt đẹp, thì người Pháp, người Việt, hay người Mỹ…đều phải quý trọng cả. Chuyện đời tôi, nghe có vẻ xưa lắm rồi, không biết có ích gì với các cô dâu Việt ngày nay?!”