Ngày 24/3, Tổng thống Mỹ đã tới Hà Lan để dự cuộc họp thượng đỉnh bất thường của nhóm G7 và thượng đỉnh về an ninh hạt nhân mở ra trong hai ngày 24 và 25/3. Đây được đánh giá là chuyến đi giúp Barack Obama huy động thế giới chống lại nước Nga. Đành rằng Mỹ luôn liên lạc thường xuyên và gắn bó với các đối tác châu Âu nhưng đây là lần đầu tiên kể từ khi Crimea sáp nhập vào Nga, Tổng thống Obama tiếp xúc với các đồng nhiệm châu Âu. Khó khăn nhất đối với Obama là thuyết phục châu Âu có lập trường cứng rắn hơn, nếu Nga tiếp tục “lấn tới”.
Ngày 24/3, Tổng thống Obama và lãnh đạo các cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới đã quyết định hủy Hội nghị Thượng đỉnh G8 sắp tới tại Nga. G7 cũng đe dọa áp đặt các biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn đối với Nga vì việc sáp nhập Crimea, vốn khiến quan hệ giữa phương Tây và Moskva rơi xuống mức thấp nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh.
Thủ tướng Đức, Angela Merkel tuần trước đã cho biết là nếu Nga vẫn giữ nguyên lập trường trên hồ sơ Ukraina thì nhóm G8 (tức 7 cường quốc công nghiệp hàng đầu cộng với Nga) không còn tính thời sự. Ngay sau quyết định của G7, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov cho rằng, một động thái như vậy "không phải là vấn đề lớn với nước Nga".
Hội nghị G7 là giai đoạn đầu tiên trong chuyến công du của Obama tại châu Âu, được coi như là một tín hiệu cảnh báo cho thấy sự cô lập của Nga. Đây là lần đầu tiên kể từ khi Washington ban hành một loạt các biện pháp trừng phạt nhắm vào Moskva, ông Obama đến châu Âu để trấn an về những biện pháp đáp trả của Nga đối với châu Âu.
Sau hai đợt công bố, tính đến ngày 24/3, tổng cộng có khoảng 40 quan chức của Nga và Ukraina bị Mỹ và EU cấm visa và đóng băng tài sản. Ngoài ra còn có một chi nhánh ngân hàng của Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga cũng bị cấm. Hôm 22/3, Master và Visa Card thông báo ngưng một số giao dịch với Nga.
Các nhà quan sát cho rằng, việc cập nhật danh sách cấm vận và phong tỏa trên nằm trong chiến lược "trả đũa từng bước" của phương Tây với Nga, giống như những gì họ đã làm trong thời kỳ Chiến tranh lạnh.
Đáp trả các lệnh trừng phạt của phương Tây, Chính phủ Nga cũng thông báo áp dụng biện pháp tương tự đối với 9 quan chức và chính trị gia của Mỹ, trong đó có cả Chủ tịch Hạ viện John Boehner và Thượng nghị sĩ John McCain, những người bị chỉ trích là có lập trường thù nghịch với Nga.
Câu hỏi được đặt ra là các biện pháp cấm vận và trả đũa giữa Nga và phương Tây có tác động như thế nào và sẽ đi đến kết cục gì? Muốn biết tác động của các lệnh cấm vận này ra sao thì hãy xem phản ứng của các bên. Ngay sau khi Mỹ và EU đưa ra danh sách các quan chức Nga bị cấm vận, ngày 17/3, Phó chủ tịch Duma quốc gia Nga Sergei Zheleznyak chế giễu những lệnh trừng phạt này là vô nghĩa và thậm chí là như trò trẻ con.
Các nghị sĩ Nga còn soạn một bản tuyên bố đề nghị Tổng thống Mỹ Barack Obama và các quan chức EU đưa tất cả đại biểu Duma đã tán thành sáp nhập Crimea vào "danh sách đen", và rằng các quan chức Nga khi không có tài khoản ở nước ngoài thì chịu lệnh trừng phạt của Mỹ như thế nào.
Ngược lại, ngay sau khi Nga công bố danh sách các quan chức Mỹ bị cấm vào Nga và bị phong tỏa tài sản, phía Mỹ cũng lên tiếng phản ứng một cách hài hước. Hôm 20/3, Chủ tịch Hạ viện Mỹ John Boehner nói rằng chẳng những ông không lấy làm khó chịu, mà còn "tự hào" được liệt vào một danh sách những người dám chống lại Tổng thống Nga Vladimir Putin. Các nhận định tương tự cũng được đưa ra bởi Chủ tịch Ủy ban Ngoại vụ Thượng viện, nghị sĩ Dân chủ Robert Menendez.
Như vậy có thể thấy các biện pháp trừng phạt và trả đũa của các bên tính đến thời điểm này dường như chỉ mang tính hình thức. Những biện pháp chế tài và trả đũa cho thấy cả Mỹ, EU và Nga vẫn hy vọng sẽ đạt được một giải pháp chính trị đối với Nga liên quan đến câu chuyện Ukraina, trước khi đi đến những quyết định cứng rắn hơn.
Chưa biết trong tương lai các biện pháp cấm vận của phương Tây với Nga có tác động như thế nào. Năm 2008, khi Nga đưa quân sang Georgia, Tổng thống George W. Bush phản ứng tương đối chừng mực bằng cách gửi các viện trợ nhân đạo đến Georgia, ngưng các việc giao tiếp quân sự giữa khối NATO và Nga cũng như hoãn lại các hiệp ước về hạt nhân dân dụng. Dù vậy, tất cả các biện pháp ấy cũng khiến kinh tế Nga bị suy thoái đến 8% trong hai năm 2008 - 2009. Bây giờ nếu phương Tây phản ứng mạnh mẽ và toàn diện hơn, các tác động đến nền kinh tế của Nga chắc chắn sẽ nghiêm trọng hơn.
Tuy nhiên, nói đến cấm vận là phải nói đến quyền lợi. Khi nào cũng thế, trước khi bàn đến chuyện cấm vận, các chính trị gia sẽ bàn thảo với nhau xem lợi hại như thế nào, có lợi thì mới cấm vận, còn nếu cấm vận mà phần thiệt hại về mình thì chưa chắc họ đã làm.
Trong thế giới hiện đại ngày nay, một quốc gia, nhất là nước lớn như Nga, có quan hệ chằng chịt trên tất cả các lĩnh vực với các nước khác trên thế giới, đặc biệt là với các nước lớn khác như Mỹ và châu Âu. Việc tách Nga ra khỏi thế giới mà không gây ảnh hưởng gì đến các nước phương Tây là điều bất khả thi. Về phía Nga, vũ khí phi quân sự của họ cũng lợi hại không kém.
Trước hết, Nga cung cấp khoảng 30% số lượng dầu khí cho Liên minh châu Âu, trong đó nhiều nhất là Đức (40%), kế tiếp là Italia (20%) và Pháp (18%). Chỉ cần ông Putin nhấc điện thoại ra lệnh, nguồn cung cấp dầu khí ấy sẽ bị cắt ngay tức khắc. Dĩ nhiên cái giá phải trả cho quyết định ấy, về phía Nga, sẽ lớn vô cùng. Nhưng trước mắt, mọi khó khăn sẽ đổ ập xuống châu Âu: mọi sinh hoạt sẽ bị ngưng trệ, từ đó, rất dễ dẫn đến các sự khủng hoảng về phương diện xã hội cũng như chính trị.
Nếu cân nhắc lợi hại, có lẽ chuyện Mỹ và đồng minh Tây Âu cùng đưa ra quyết định cấm vận kinh tế với Nga là điều khó có thể xảy ra. Một số nhà phân tích kinh tế e rằng "cấm vận Nga có nghĩa là thiệt hại sẽ về mình hơn là có lợi". Những nhà phân tích này đưa ra nhiều lý do như hầu hết các đại công ty Mỹ "đều đang hiện diện và làm ăn rất tốt ở Nga" - chẳng hạn như McDonald hay Pepsi, có người còn nói nghe được tin Công ty Boeing đã vận động với giới hành pháp xin đừng "nặng tay" với Nga vì công ty sản xuất máy bay này tin là trong một thời gian ngắn nữa, Nga cần mua thêm cả trăm chiếc máy bay của Mỹ với số tiền lên đến vài chục tỉ USD, đủ để nuôi hàng chục ngàn công nhân trong nhiều năm trời.
Riêng với Liên minh châu Âu, thị trường xuất khẩu sang Nga của khối này lớn hơn thị trường xuất khẩu hàng của họ vào Mỹ, nhiều công ty dầu của châu Âu có phần hùn rất lớn với Tổ hợp Dầu khí của Nga. Pháp không hề muốn hợp đồng cung cấp tàu chiến Mistral cho Nga bị đình chỉ vì sợ đe dọa trực tiếp đến công ăn việc làm của 1.000 nhân viên đóng tàu.
Một yếu tố khác cũng được nhắc đến: thị trường châu Âu là thị trường mà các đại gia Nga đang bỏ những khoản tiền khổng lồ vào đầu tư ở nhiều lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như tiền họ đầu tư vào địa ốc nhiều đến mức người dân thủ đô Anh nói đùa với nhau rằng, giới tư bản Nga muốn biến London thành "Londongrad".
Trong một mạng lưới kinh tế đa quốc gia như thế, bất cứ quyết định nào cũng sẽ có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, chứ không riêng gì đối với Mỹ hay Nga.
Nạn nhân đầu tiên của các cuộc cấm vận bao giờ cũng là dân chúng. Ở phương Tây, sự cùng khốn của dân chúng có thể biến thành sự bất mãn, từ đó, tác động lên chính trị, làm thay đổi chính phủ hoặc chính sách hoặc cả hai. Ngược lại ở Nga cũng vậy.
Trong khi đó tình hình tại Crimea đã bắt đầu ổn định. Ngày 24/3, quân đội Ukraina đã được lệnh rút hết khỏi Crimea nhường lại quyền kiểm soát cho chính quyền tự trị bán đảo này. Đây là điều dễ hiểu vì trước cuộc trưng cầu dân ý ngày 16/3, lãnh đạo Crimea từng tuyên bố rằng một khi Crimea sáp nhập vào Liên bang Nga thì tại Crimea ngoài lính Nga và dân quân tự vệ Crimea, bất cứ quân đội nào khác tại bán đảo này đều bị coi là bất hợp pháp. Việc triệt thoái quân đội khỏi Crimea cũng cho thấy một điều rằng chính quyền Kiev đã chấp nhận việc Crimea sáp nhập vào Nga