Nếu một người chết não có thể cứu sống gần 10 người khác bằng cách ghép tạng thì hiện nay chỉ tính riêng Bệnh viện Việt Đức với số người chết có khoảng 1.500 người chết mỗi năm thì sẽ cứu sống được 15 nghìn người. Trớ trêu thay khi nguồn tạng dồi dào thế nhưng số người tình nguyện hiến tạng cực hy hữu. Và đây chính là khó khăn lớn nhất của ngành ghép tạng Việt
Ấy vậy mà trái ngược với xu thế chung, ở một xã thuần nông Bắc Bộ, đã có tới 38 người nông dân, tình nguyện hiến tặng một phần cơ thể của mình để đem lại ánh sáng cho những bệnh nhân hỏng mắt. Đó là xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn, Ninh Bình.
Vạn sự khởi đầu nan
Nằm cách thành phố Ninh Bình hơn 30km và cách biển Ninh Bình khoảng 7km, Cồn Thoi là một miền quê thật đẹp khi nắng vàng rót mật trên tán lá và gió mơn man lay đùa những luống cây. Những mái nhà thờ mang kiến trúc cổ kính, uy nghiêm thấp thoáng giữa những vườn cây rậm rạp lá. Một khung cảnh quê thật êm đềm, đẹp đẽ. Càng đẹp đẽ, ý nghĩa hơn khi người ta biết rằng ở đây thay vì nếp nghĩ cũ kỹ, bảo thủ vốn đã trở thành đặc trưng của nông thôn lại là một tư duy rất mới, văn minh và từ tư duy, nếp nghĩ mới ấy, người dân Cồn Thoi đã cứu giúp được bao nhiêu người bằng việc hiến giác mạc.
Khi về Cồn Thoi, chúng tôi rất may mắn khi gặp được anh Phạm Văn Sự, một cộng tác viên đắc lực của Bệnh viện mắt Trung ương. Không chỉ là "cầu nối" giữa người hiến giác mạc với Bệnh viện Mắt Trung ương mà chính câu chuyện của anh Sự còn là khởi đầu cho phong trào hiến giác mạc ở đây.
Anh Sự có chị dâu tên là Nguyễn Thị Khui, cũng cùng xóm 8A, bị thoái hóa giác mạc nên mắt trái của chị không nhìn thấy gì, mặc dù đã được điều trị tích cực ở Bệnh viện mắt Trung ương. Các bác sĩ ở Viện mắt bảo, để có thể cứu chữa được mắt này, chỉ có cách thay giác mạc. Nhưng vì bệnh viện không có giác mạc nên hoặc là chị tự vận động để có giác mạc thay thế hoặc là chấp nhận mắt có như không.
Thời điểm ấy, năm 2007, hiến giác mạc là một chuyện hoàn toàn xa lạ ở Việt
Cũng thời điểm đó, trong xóm 8A có cụ Nguyễn Thị Hoa do tuổi già sức yếu, như ngọn đèn trước gió, chỉ chờ đến lúc là về với tổ tiên. Vì đi chăm sóc chị Khui một thời gian dài ở Viện mắt, nên anh Sự hiểu rất rõ, chỉ có những người sắp rời trần thế như cụ Hoa mới có thể hiến tặng giác mạc. Nhưng vào thời điểm nhạy cảm này, nếu nói chuyện ấy ra, không những anh Sự dễ dàng bị đánh giá là vô tình vô nghĩa, mà còn bị coi là xúc phạm đến gia đình, con cháu của cụ Hoa. Chưa nói đến "đất lề quê thói" còn coi đó là chuyện tày trời, chuyện bất nhân bất nghĩa ở đời.
Thương chị dâu, suy đi tính lại mãi, cuối cùng anh Sự quyết định sẽ lựa lời nói chuyện này với anh Mai Văn Vinh là con trai lớn của cụ Hoa. Lựa một tối trăng thanh gió mát, anh Vinh lại đang vui vẻ vì vừa được mùa. Anh Sự đã đến tận nhà mời anh Vinh sang nhà mình uống nước đồng thời để thưa chuyện.
Anh Sự kể, lúc đó mặc dù chuẩn bị từng câu từng chữ, nhưng trước anh Vinh, anh Sự vẫn lúng túng mãi mới nói nên lời: "Anh à, em nói điều này không biết có đúng không, để cứu giúp người và cũng là để lại phúc đức cho con cháu, mai này, khi về với tổ tiên, nếu có thể bà và gia đình bên anh thuận tình cho chị dâu em xin giác mạc ở mắt bà được không? Có được, bác sĩ sẽ ghép vào mắt chị em làm mắt chị em sáng như cũ".
Nghe xong, anh Vinh nhìn anh Sự như người từ hành tinh khác rồi nói: "Chú đùa anh đấy à? Mẹ anh sống thế nào chết phải thế ấy chứ, làm sao lấy đi một phần cơ thể của bà được. Hơn nữa, làm gì có chuyện mắt của người chết ghép cho người sống mà sáng được. Chú cứ đùa...".
Vậy là phải giải thích đi giải thích lại, thậm chí mang cả tài liệu của Bệnh viện mắt Trung ương về việc lấy và ghép giác mạc của người chết cho người sống cho anh Vinh xem, anh Vinh mới tin. Nhưng còn chuyện có đồng ý lấy giác mạc của bà Hoa khi bà qua đời để ghép cho chị dâu của anh Sự không thì anh Vinh chỉ trả lời: "Để xem đã. Vì tôi phải hỏi ý kiến mẹ tôi".
Nghe vậy, nhưng anh Sự hiểu rõ từ thuyết phục đến chấp thuận cho giác mạc là cả một hành trình gian nan. Và trong quá trình chờ đợi ấy, lần nào gặp anh Vinh, anh Sự cũng đều thuyết phục thấu tình đạt lý: "Chúa đã dạy: "Giúp người khác, người khác sẽ giúp mình", hay: "Ta cho người ánh sáng, Chúa sẽ ban cho ta ánh sáng khác" nên anh ơi, vì Chúa, vì cuộc sống của chị dâu em, bà và anh hãy cứu giúp đôi mắt của chị em. Nếu không, khi mất đi, đôi mắt ấy của bà cũng thành tro bụi".
Sau khi nghe anh Sự nói vậy, gia đình anh Vinh không biết đã họp bao nhiêu ngày để đi đến quyết định có tặng giác mạc hay không. Bà Hoa, người tặng giác mạc thì đồng ý ngay. Song còn con cháu cụ thì người nào người nấy đều cho rằng làm như vậy có vẻ nhẫn tâm quá. Có người còn lo lắng cho giác mạc đi như vậy, sau này khi về thế giới bên kia, bà Hoa sẽ về nhà thăm con cháu bằng cách nào. Đó là chưa nói đến cho giác mạc như vậy, người ta sẽ đồn đại nhà anh Vinh bán mắt mẹ lấy tiền làm ma.
Đắn đo, cân nhắc mãi cuối cùng anh Vinh mới quyết định tổ chức một buổi họp "chót" và nói: "Cây ngay không sợ chết đứng, bà đã đồng ý, ta cứ làm theo nguyện vọng của bà. Hơn nữa đây là làm phúc, ta nên làm". Thế là anh Vinh liền viết giấy tình nguyện tặng giác mạc của bà Hoa cho chị dâu anh Sự để tất cả mọi người trong gia đình cùng ký vào.
Hôm đi xác nhận của chính quyền địa phương vào tờ giấy đó, anh Sự vẫn không thể tin nổi chuyện này là sự thật. Anh phải nhờ người họ hàng vào UBND huyện Kim Sơn để xin xác nhận và đóng dấu. Anh bảo: "Lúc đó, tôi run lắm, vừa không tin là thật vừa sợ đến phút chót, vì quá thương bà cụ mà gia đình anh Vinh thay đổi quyết định nên tôi không dám vào làm thủ tục giấy tờ mà phải nhờ người khác".
Nhưng đó không phải là lần duy nhất anh Sự hồi hộp khi nhận được giác mạc hiến tặng của bà Hoa mà sau đó, đúng hôm bà Hoa mất, khi các bác sĩ ở Viện mắt Trung ương xuống lấy giác mạc, anh Sự cũng lâm vào trạng thái như vậy. Vì anh biết trong xóm có người bàn ra tán vào rằng vì nhà nghèo nên anh Vinh đã bán mắt mẹ để lấy tiền làm ma.
Ngay cả khi anh đưa đoàn bác sĩ sang phẫu thuật lấy giác mạc, anh Vinh cũng đã ôm lấy anh và khóc rằng: "Tôi khổ quá chú ơi, người ta bảo tôi bán mắt mẹ để lấy tiền đấy. Trong khi tôi có lấy gì của chú đâu".
Vì điều ấy, anh Sự lo lắng, hồi hộp việc lấy giác mạc của các bác sĩ có thể bị cản trở, thậm chí không thực hiện được. Nhưng may quá, cuối cùng việc hiến tặng cũng được thực hiện và bà Hoa trở thành người đầu tiên ở Việt
Đầu đã xuôi, đuôi sẽ lọt
Sau lần đầu tiên hiến tặng giác mạc của bà Hoa với mọi khó khăn, vất vả, đến lần thứ hai, hiến tặng giác mạc là chuyện có vẻ đơn giản, dễ dàng hơn với bà con ở huyện Kim Sơn nói chung và xã Cồn Thoi nói riêng. Nói vậy nhưng không có nghĩa việc hiến tặng giác mạc đã hoàn toàn thuận lợi mà vẫn bị cản trở bởi quan niệm về hiến giác mạc.
Chỉ một tháng sau ca hiến tặng giác mạc lần đầu tiên, bà Nguyễn Thị Hiền, 58 tuổi cũng ở xóm 8A, Cồn Thoi là người hiến tặng thứ hai. Bà Hiền quan niệm sống ở đời, khó hai con mắt thì nói gì đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vả lại, Kinh Thánh đã dạy: "Con người sinh ra từ tro bụi khi chết cũng trở về với tro bụi". Cho nên, dù căn bệnh ung thư đang tàn phá cơ thể bà nhưng đôi mắt của bà thì vẫn còn nguyên vẹn. Bà muốn tặng nó cho người khác để họ tìm lại được ánh sáng. Nếu không khi về với Chúa, đôi mắt ấy cũng trở nên vô nghĩa.
Nghĩ vậy, nhưng bà chưa dám nói ngay với chồng mà phải rào trước đón sau để ướm ý ông. Không ngờ chiều ý bà, ông nói ngay: "Tặng người khác ánh sáng cũng là làm phúc cho đời. Bà hiến giác mạc của mình, Chúa sẽ ban cho bà ánh sáng khác. Nhưng quan trọng nhất là bà cứ làm những gì mà bà cảm thấy vui". Thế là ông và bà viết giấy cam kết hiến tặng giác mạc.
Tin này được loan rộng rãi trong xã, nhiều người trong xóm, họ hàng của hai ông bà đã đến tận nhà can ngăn. Thậm chí họ ngồi xúm xít quanh giường bà Hiền để thuyết phục bà nghĩ lại với cái lý: "Người ta sinh ra thế nào khi chết đi phải thế ấy. Sao lại để khuyết đi một phần cơ thể"...
Về phần bà Hiền, khi nghe vậy chỉ cười và trả lời trong hơi thở thều thào: "Sao các bà cứ bàn cãi thế nhỉ, tôi giúp người khác ánh sáng. Chúa sẽ ban cho tôi ánh sáng khác. Với lại, tôi làm điều ấy vì tôi vui...". Còn với chồng bà - ông Nguyễn Văn Huấn, khi nghe nói quá nhiều, thực sự lại thấy lòng dao động. Ông băn khoăn không biết khi lấy giác mạc có phải người ta sẽ khoét hẳn hai con mắt của bà đi không. Nếu thật như vậy thì tội cho bà quá.
Chỉ tại lần trước, người ta lấy giác mạc của bà Hoa kín quá, không ai biết như thế nào nên bà con làng xóm cứ bàn tán lấy giác mạc thì phải khoét luôn cả mắt. Ông mang điều này hỏi anh Sự, thì anh Sự đã giải thích ngọn ngành: thủ thuật đơn giản chỉ diễn ra 15 phút, và chỉ lấy giác mạc là một màng mỏng thôi. Vậy mà ông vẫn bán tín bán nghi về điều ấy.
Cái hôm bà Hiền mất, nhìn vợ nằm trên giường như chìm sâu vào giấc ngủ, ông Huấn cứ loay hoay bên giường bà để xem các bác sĩ lấy giác mạc như thế nào. Lúc ấy, ông định bụng hay là thôi việc hiến tặng giác mạc của bà Hiền. Nhìn cảnh cô con gái út của ông lăn xả vào mẹ để khóc trông rất đáng thương và cảnh bà con lối xóm đứng chật kín trong nhà, ngoài sân chỉ để chứng kiến việc lấy giác mạc càng khiến ông nghĩ tới quyết định này. Nhất là khi các bác sĩ chuẩn bị phẫu thuật lấy giác mạc, chỉ chút nữa thôi ông bật quát lên: "Thôi, để vợ tôi yên". Nhưng may lúc đó, bàn tay của anh Sự nắm chặt vào vai ông đã khiến ông dừng lại.
Đến bây giờ, sau 3 năm phẫu thuật lấy giác mạc của bà Hiền, mỗi lần nghĩ lại, bác sĩ Sơn, một trong những người tham gia phẫu thuật vẫn còn thót tim vì cảnh cô con gái út của bà cứ dí sát mặt vào mắt mẹ để xem các bác sĩ lấy giác mạc. Bác sĩ Sơn lo sợ chứng kiến cảnh ấy, có thể cô gái sẽ cản trở phẫu thuật mặc dù nó rất đơn giản. Tuy nhiên, cuối cùng việc lấy giác mạc cũng diễn ra suôn sẻ. Mọi người chứng kiến hôm ấy đều thở phào nhẹ nhõm, nhất là ông Huấn. Ông bảo: "Hóa ra nó đơn giản, nhẹ nhàng như người ta bóc màng của quả trứng luộc vậy".
Sau khi chứng kiến cảnh phẫu thuật lấy giác mạc của Bà Hiền, đối với giáo dân ở Cồn Thoi, đặc biệt là ở xóm 8A không còn phải băn khoăn, lo sợ về điều này nữa. Số người hiến tặng ngày càng nhiều hơn. Chỉ chưa đầy 3 năm mà đã có hàng chục người hiến tặng giác mạc. Trong đó rất nhiều gia đình có đến 2-3 người cùng hiến giác mạc như nhà bà Hiền, sau này mẹ của bà Hiền cũng hiến giác mạc.
Nhà ông Vũ Văn Ước, ở xóm 7B cũng có mẹ đẻ và mẹ vợ cùng hiến giác mạc. Rồi cụ ông thân sinh ra ông Ước, hiện cũng đã di chúc lại cho con cháu sẽ tặng "ánh sáng" cho người đời. Và bản thân ông Ước và vợ cũng đã chuẩn bị sẵn điều này. Ông Ước nói: "Chúng tôi làm điều này, không những theo lời dạy của Đức Kitô về tinh thần bác ái mà còn vì chúng tôi thấy vui, thấy hạnh phúc khi giúp đỡ được người khác ngay cả lúc mình đã không còn ở trên đời này".
Cùng với anh Sự, Cha Chính xứ Đoàn Minh Hải là người có công làm dấy lên phong trào hiến giác mạc ở Cồn Thoi. Ông kể với chúng tôi, sau trường hợp hiến giác mạc đầu tiên là bà Hoa, ông đã được các bác sĩ Bệnh viện Mắt Trung ương về tận nơi gặp gỡ và trao đổi về việc ông sẽ cộng tác, thuyết phục giáo dân ở đây hiến tặng giác mạc. Nhận thấy đây là việc thiện, lại rất phù hợp với những tín điều, niềm tin của đạo Kitô như tinh thần bác ái, "xác đất vật hèn" (trở về với tro bụi), "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại" (Kinh Thánh), ông đã nhận lời vận động giáo dân hiến tặng giác mạc.
Để xua tan đi quan niệm chết phải toàn thây, ông đã giải thích cho giáo dân ý nghĩa của câu "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại" là "Chúa Giêsu chết ngày thứ 6 và sống lại vào ngày chủ nhật". Điều đó nghĩa là khi người ta chết đi sẽ phục sinh và chết như thế nào sẽ sống lại thế ấy, không sợ ánh sáng cho đi sẽ mất mà Chúa sẽ ban lại ánh sáng khác đúng như khi sống.
Với tinh thần ấy, ông đã thuyết phục giáo dân hiến tặng giác mạc trong những ngày làm lễ. Nhưng ông bảo không phải ngày làm lễ nào cũng nói vậy. Mà phải tùy lúc, tùy nơi. Giống như khi đến nhà giáo dân hoặc là để rửa tội, sức dầu thơm cho những người sắp về với Chúa hoặc là để chia sẻ, động viên họ nhân sự kiện gì đó, phải lựa lúc thích hợp mới thuyết phục họ hiến tặng giác mạc. Chứ không thể tiện đâu nói đấy, nhất là khi gia đình có người sắp mất. Nếu làm như vậy khác nào mong người ta chóng chết. Đặc biệt, Linh mục Đoàn Minh Hải không bao giờ ép buộc hay áp đặt giáo dân phải hiến tặng giác mạc mà chỉ "định hướng" để họ hiểu rồi tự nguyện.
Trong khi ghép tạng ở Việt Nam còn đang rất lúng túng với nguồn tạng không biết lấy ở đâu thì việc hiến tặng giác mạc của giáo dân ở xã Cồn Thoi, huyện Kim Sơn có thể nói là nghĩa cử vô cùng cao đẹp. Dựa trên "tinh thần bác ái Kitô giáo", họ đã cho và nhận lại đơn giản chỉ là niềm vui do chính mình tạo ra. Và đối với họ, đó mới là món quà quý giá nhất mà Chúa và người đời đã dành cho họ