1. Tháng trước, tôi có ghé Long Xuyên. Long Xuyên là thành phố nhỏ thuộc tỉnh An Giang. Long Xuyên ẩm thấp, nét phố thị tỉnh lẻ dưới ánh đèn vàng vọt ngày mưa trong tiểu thuyết thế nào, thì Long Xuyên đêm hôm tôi đến thế ấy. Gọi điện thoại cho anh xe ôm, người hay chở tôi đi chỗ này chỗ kia mỗi lần tôi đến Long Xuyên, rủ anh cà phê khuya. Anh không nhấc máy, đợi hoài mà không thấy anh gọi lại. Gửi một tin nhắn, chẳng thấy hồi âm.
Tôi cũng có người quen lớn tuổi ở thành phố này, ông có tên là Năm Cụt. Người dân nơi đây quen gọi ông bằng cái tên đó, tôi bắt chước theo, cũng gọi ông như vậy. Ông, hai tay hai chân đều cụt ngủn. Ông kể, xưa còn trẻ trai, đi dò phế liệu bị bom nổ. Thời chinh chiến, mấy ai tránh được chuyện đạn lạc tên bay.
Vợ ông lên chăm ông ở Bệnh viện Chợ Rẫy, cứ ôm ông trong lòng khóc ngất. Ông tỉnh dậy sau khi hết thuốc gây mê, là lại xin cô y tá của bệnh viện cho ông được chết. Ông không biết thoát khỏi tình cảnh thiếu tay thiếu chân ấy bằng cách nào.
Ngày ra viện, bà ôm ông trong lòng như ôm con trẻ, ngồi xe đò đưa ông về căn nhà rách mèm ở Long Xuyên. Bà khóc, ông khóc, hành khách ngồi trên xe đò nhìn tình cảnh ấy đều rơm rớm nước mắt.
Ông về, nằm một chỗ, nhìn nước nhỏ qua trần nhà mỗi khi mưa xuống, lòng buồn như khi nghe mọt ăn gỗ. Bà lẳng lặng không nói, mâm bánh tiêu ngày càng nặng thêm. Số tiền lẻ lời được sau một ngày rảo chân phố xá được quy đổi thành tiền thuốc, tiền sữa cho ông.
Vết thương lành miệng, từ những mõm cụt, lồi ra một mẩu xương đẩy phần thịt thừa lủng lẳng ra bên ngoài, đỏ hỏn. Cứ mỗi lần chạm vào mẩu xương cụt ấy, là ông có cảm giác ai đang dùng kim đâm thẳng vào tim mình.
Rồi ông tập lết trên nền nhà, tập ăn bằng cách nhờ bà kẹp cái muỗng nhôm vào mẩu xương cụt ở tay bằng dây thun, tập cả cách nhìn ngày tháng buồn bã trôi qua mà mỉm cười nhè nhẹ. Người bạn của ông thương tình, cho ông vay ít tiền để đi bán vé số.
Ông lót miếng vỏ xe dưới mông, chế thêm hai đồ bảo hộ bằng cao su để che chắn phần xương cụt ở chân, lết ra đầu đường bán vé số. Ngày bán được, ngày không. Nhưng vạ vật nơi đầu đường, cho ông biết là ông vẫn đang còn sống.
Ngày đầu tiên, ông cầm hơn 20 nghìn tiền lãi về đưa cho bà, bà nhìn ông sửng sốt. Còn ông, sau khi tỏ ra phớt lờ trước mắt bà, đã lết lên võng, trùm chăn kín đầu để khóc.
Mà sao cái vận ông ngộ quá. Nghèo xơ xác, lại cụt ngủn tứ chi, nhưng sòn đô sòn, bà sinh một mạch được 7 người con, trai gái đủ cả. Con cái ông bà cũng ám vận của bố mẹ, nghèo xơ xác. Nghèo như cánh đồng cỏ cháy mùa không mưa, nghèo đến hắt hiu, nghèo như mưa phùn xuyên qua vách nhà nát, biết đấy mà chẳng làm gì được.
Anh con trai út của ông lấy vợ, vợ chịu không nổi cảnh nghèo, quẳng hai con lại cho anh và ông bà nội chăm sóc. Chị bỏ quê đi đâu không ai biết, có khi lên Sài Gòn. Người miền Tây, bao giờ cũng chọn Sài Gòn là đích đến của niềm hy vọng. Dẫu rằng, hy vọng luôn ẩn chứa sự xót xa.
Anh bị vợ bỏ buồn, rượu từ sáng đến tối, uống đến mức người khi nào cũng lẩn thẩn, nhớ nhớ quên quên. Gặp tôi, cứ cầm tay suốt, hỏi đi hỏi lại: "Có khi nào, anh thấy vợ tui trên đó. Nhớ nói nó về với cha con tui, anh nha".
Ông, mạt vận rồi. Vẫn phải lo cho hai đứa cháu bị mẹ bỏ, lo luôn cho cả cậu con trai gần 50 tuổi, ngày nào cũng khóc vì mất vợ.
Vậy mà, ông nói tỉnh queo khi tôi dúi vào tay ông ít tiền, nói là cho hai nhóc uống sữa: "Khóc cũng khổ, cười cũng khổ. Mắc mớ gì mình lại không cười hả chú?".
2. Lâu lắm rồi không gặp Vương, dẫu vẫn ám ảnh cái kiểu nói chuyện chầm chậm, khuôn mặt góc cạnh, da đen nhẻm và dáng người gầy gò của Vương. Cứ mỗi lần qua cầu Cần Thơ lại nhớ Vương.
Trưa ấy, nhận được điện thoại của cơ quan, chỉ đạo là phải đi Cần Thơ gấp, cầu Cần Thơ sập, số nạn nhân bị thiệt mạng lên đến hàng chục người. Chiều, đến địa phận giáp giữa Vĩnh Long và Cần Thơ, nơi cây cầu đang xây dang dở nối ngang đôi bờ sông Hậu bị sập.
Mấy hôm liền tác nghiệp trong vụ việc, trời cứ mưa suốt. Mưa không to không nhỏ, mưa dầm dề làm ướt mèm con đường đất, nhiều cỏ dại ở khu Rạch Tra, địa phương có nhiều người tử nạn trong vụ sập mố cầu thảm khốc ấy.
Đi đâu cũng thấy áo quan, vải xô và nghe tiếng khóc hời hời. Mọi thứ hắt hiu như tuổi 20 vừa chia tay với bạn gái. Vào nhà Vương, thấy Vương ngồi câm lặng như cả trăm năm rồi không cất tiếng nói. Hai em trai Vương thiệt mạng ngay khi cầu sập, Vương và bố Vương bị thương nặng. Vương, chứng kiến trọn vẹn bi kịch ấy của huyết thống mình. Hỏi làm sao mà Vương không như ngây như dại.
Vương tỉnh dậy trong Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, hoảng loạn, vội vã trốn về nhà quấn khăn tang trên đầu đưa em. Nhìn Vương hoài mà không biết phải hỏi gì cho lịch sự.
Hai năm sau, về lại Rạch Tra ngày giáp tết, tìm đến Vương. Vương nhìn nhận ra tôi ngay. Vương vẫn ở cái nhà cũ, căn nhà lợp lá sát với nhà của bố mẹ Vương.
Số tiền Vương nhận được sau tai nạn, Vương gom mua chiếc xe gắn máy làm nghề chạy xe ôm dạo trên cồn Rạch Tra. Hỏi Vương, đã đỡ bị ám ảnh bởi cái ngày khủng khiếp ấy chưa? Vương không trả lời, mắt dõi nhìn con nước đang ròng phía ngoài rạch nhỏ. Mắt Vương buồn buồn.
Rồi có khi, gió chiều còn mênh mang quá, cù lao xanh um quá. Nên Vương kể nhiều câu chuyện dở khóc dở cười đằng sau số tiền mà người thân của các nạn nhân trong vụ sập mố cầu Cần Thơ nhận được.
Chuyện nào nghe cũng bùi ngùi, không biết là nên viết làm sao. Hằn lên tất cả là chuyện về nghĩa vợ chồng và khoản tiền cứu trợ.
Trước, hai vợ chồng ở không đồng thuận với nhau. Ngày anh chồng tử nạn dưới khối bê tông ở cầu Cần Thơ, chị vợ ở nhà vẫn thản nhiên cười nói. Mặc cho đội cứu hộ đang làm việc hết sức mình để đưa xác anh ra khỏi hàng nghìn khối bê tông, chị không quan tâm điều đó. Chị cũng chẳng cần ra hiện trường để xác tín xem chồng mình còn sống hay không? Đến khi cơ quan chức năng xác minh được danh tính và địa chỉ của nạn nhân, mang đến tận nhà chị cũng không buồn để tâm làm ma chay. Bà con của anh đứng ra tổ chức lễ tang cho anh. Khi người nhà yêu cầu chị để tang cho trọn đạo vợ chồng, chị lẳng lặng tháo khăn tang treo lên cây bưởi sau nhà như một sự phản đối.
Có ngờ đâu, vài ngày sau khi số tiền cứu trợ từ các nhà hảo tâm, sự hỗ trợ của các cấp chính quyền tăng dần lên thì chị phát hoảng. Chị không biết số tiền cứu trợ lớn khủng khiếp đến mức đó. Vài trăm triệu đồng, đó là con số mà trong mơ chị cũng không thể nghĩ ra. Vậy là chị về lại nhà, vật vã đau đớn, "chồng ơi chồng hỡi", "anh ơi anh à"... Rồi chị ra sức giành giật khoản tiền cứu trợ từ tay những người bà con của chồng mình. Chị làm tất cả để miễn sao có thể cho mình có được nhiều tiền nhất.
"Em nói thiệt với anh, thà rằng đừng có tiền cứu trợ thì cuộc sống người dân quê em đã khác lắm. Có thể họ sẽ khổ, sẽ mất mát nhưng họ không đánh mất đi chính mình. Em ít chữ ít nghĩa, chứ em mà biết viết, em cũng viết hết tất cả những chuyện này cho mọi người biết", nhớ là Vương có nói vậy.
Vương xách xe gắn máy, chở tôi dạo hết một vòng quanh cồn Rạch Tra trước khi chia tay Vương, sau khi kể hết những gì mình nghĩ lại trở nên lặng im như lần tôi gặp Vương 2 năm về trước.
Lẽ ra, phải viết tất cả những gì Vương đã rủ rỉ từ ở thời điểm đó, nhưng nghĩ sao lại thôi. Và nếu những ngày cuối năm này, không nhớ miền Tây, có lẽ, cũng sẽ không kể nốt.
Vương tên đầy đủ là Lưu Quốc Vương, Vương bằng tuổi tôi. Tết này là 29. Vương có vợ và hai nhóc. Vợ Vương nhìn hiền, dáng cam chịu của phụ nữ quê.
Miền Tây, khóm lục bình trôi thanh thản ngoài sông, tim tím hoa. Phận người cũng vậy. Mọi thứ cứ tưởng chừng thanh thản, nhưng ẩn sâu dưới tán lục bình là những câu chuyện ít vui.
3. Khi mà vụ lừa đảo mang tên Colony tràn về Đồng Tháp, tôi có mặt ở đó. Người dân chỉ cho tôi gặp chú Tư Đen, người nông dân bị lừa mất hết đàn bò vì tin lời của những người "gửi ngoại tệ, siêu lợi nhuận".
Nhà chú Tư Đen trên cồn, mất hơn 5 phút đi xà lan mới đến. Chiều, ngồi uống trà với tôi, chú Tư cứ cười suốt. Hỏi chú, mất tiền bộ chú không buồn hay sao mà cười hoài vậy? Chú Tư trả lời: "Buồn chứ mày. Tao dành dụm cả đời được mấy con bò, giờ bị nó lừa mất sạch mà sao không buồn”.
"Vậy tại sao chú lại cười", tôi hỏi tiếp. "Vì tao sống chừng này tuổi rồi, gần tám chục chứ ít ỏi gì, mới được thằng nhà báo là mày phỏng vấn, nghĩ thấy mắc cười thôi", chú Tư đáp.
Ngộ thiệt!
Chú Tư bị lừa hết đàn bò, vợ con càm ràm đến mức phải chạy qua hàng xóm lánh nạn, nhưng cứ đưa máy chụp ảnh lên là lại cười. Tôi nói với chú: "Chú đừng cười nữa, chứ không lẽ lên báo, chú là người bị hại mà cứ cười hoài vậy, coi sao được". Nói thì cứ nói, còn cười thì vẫn cứ cười.
Cười đến mức, trả lời cho câu hỏi: "Giờ chú tính sao với số tiền đã bị lừa mất?". Chú Tư trả lời: "Thì mày không thấy tao đi bán vé số hay sao mà còn hỏi?". Vừa trả lời, lại vừa cười.
Người miền Tây là vậy, chuyện qua rồi cứ như không. Họ không quan tâm nhiều đến điều mình đã trải qua. Ít khi nghĩ về thân phận mình. Họ cứ đơn giản như khi thổi cơm, lửa bén qua mặt để lại cái sẹo, chỉ nhau cười nói: "Mày bị phỏng đèn dầu hả", rồi thôi.
Còn những người trải qua một biến cố, như Vương chẳng hạn, thì muốn kể nhiều, nhưng biết kể là làm sao(?!).
Cứ như con nước hết lớn lại ròng, vẫn thấy lững lờ một khóm lục bình thanh thản trôi tím ngắt.
Hay có khi nụ cười phóng khoáng quá, nên bi kịch cứ luôn chực chờ?...